- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn M - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn M, giữ nguyên hình phạt của
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 454/2022/HS-PT Ngày: 25/09/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Long Các Thẩm phán: Ông Phạm Việt Cường Ông Nguyễn Chí Công - Thư ký phiên tòa: Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Tuấn, Kiểm sát viên. Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 429/2023/TLPT-HS ngày 18 - 9 - 2023, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2023/HS- ST ngày 16 - 8 - 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. - Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn M, sinh ngày 15-5-1999 tại Gia Lai. Nơi thường trú và chỗ ở: thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm nông; học vấn: 7/12; cha là Nguyễn V (đã chết), mẹ là Mai Thị N, sinh năm 1953; gia đình có 10 anh chị, bị cáo là con nhỏ nhất; chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2023 đến nay; hiện đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G; có mặt. - Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đỗ Hùng L, Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai; có mặt - Bị hại: Anh Trần Tấn H, sinh năm 2001; địa chỉ: đội D, thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; vắng mặt. Ngoài ra vụ án còn có 01 bị cáo khác nhưng không liên quan đến kháng cáo, không có kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 19 tháng 02 năm 2023, Nguyễn Vĩnh T, Nguyễn M cùng các anh Nguyễn Quốc V1, Mai Phi T1 uống rượu tại nhà Nguyễn M. Trong lúc đang uống rượu thì Lê Thị Thùy L1 gọi điện thoại rủ V1 đến nhà L1 tại thôn C, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để uống bia thì V1 đã rủ T và M đi cùng. V1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Air Blade BKS 81C1-175.70 chở T1; T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Vario, màu Xám - Đen, biển kiểm soát 43D1-840.23 chở Mỹ, cùng đi đến nhà L1. Đến nơi, anh V1 gọi điện thoại rủ anh Trần Tấn H đến chơi cùng. Anh H đồng ý và rủ thêm em trai là Trần Tấn B; Nguyễn Thanh H1 và Nguyễn Thanh H2 đang có mặt tại nhà H đi cùng. Anh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winer X, màu Đen - Vàng - Đồng, biển kiểm soát 81B3-080.76 chở H1; H2 điều khiển xe mô tô (không rõ BKS) chở B đi đến thôn C, xã H, huyện Đ. Khi đi đến khu vực cầu K, xã H, huyện Đ, do H2 không uống bia nên điều khiển xe mô tô của H2 đi về một mình. Còn anh H, anh B, anh H1 tiếp tục chở nhau đến nhà của L1 cùng nhóm bạn uống bia. Tại nhà của L1 trong nhóm không xảy ra mâu thuẫn gì. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20 tháng 02 năm 2023, cả nhóm rủ nhau ra khu vực cầu K, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để uống bia tiếp. Tại đây ngoài T, Mỹ, V1, T1, H, B, H1, L1 thì có thêm H3 (là bạn trai của L1 không rõ tên tuổi, lai lịch) ngồi uống bia. Khi uống bia được khoảng 30 phút thì M đã say và ném xô đựng nước xuống đường nên H nói với M: “Bạn say rồi à, về nghỉ đi”; M nói lại: “Sao mày lại nói vậy”. Rồi H nói B và H1 đi về. H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B3-080.76 chở H và B đi về hướng xã N. Khi H, B và H1 đi về thì cả nhóm cũng giải tán đi về. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43D1-840.23 chở Mỹ, khi thấy xe của H đang chạy phía trước cùng chiều thì M nói với T: “Thằng đó nhỏ mà láo gọi tao mày với tao, giờ chạy lên chặn xe của chúng nó đánh”. Nghe vậy, thì T điều khiển xe mô tô đuổi theo anh H. Khi đến đoạn đường trước quán cà phê của ông Phạm N1 thì T điều khiển xe mô tô chặn trước đầu xe của H1, rồi cùng M xuống xe. M nói với anh H: “Mày nhỏ mà sao mày mày, tao với tao”, khi M vừa nói xong thì T dùng chân đạp vào xe mô tô làm anh H1, H, B ngã xuống đất. M xông đến dùng tay đánh 04-05 cái vào mặt của anh H thì H1, B đến can ngăn và đẩy M ra. Thấy H1 và B lao vào thì T xông đến dùng tay đánh nhau với H1 và B còn M nhặt 01 cây lau nhà (cán bằng kim loại) ở phía trước quán cà phê của nhà ông N1 cầm bằng hai tay đứng đối diện và đánh 01 (một) cái trúng vào vùng cổ bên trái của anh H; Mỹ giơ cây lau nhà lên đánh xuống cái thứ hai thì anh H đỡ được và giật lấy được cây lau nhà từ tay M và đánh lại nhưng không trúng.
Lúc này, T nhìn thấy trong sân nhà của người dân (Đối diện quán cà phê) có một đống gạch, đá ở gốc cây thì chạy đến nhặt 01 (một) viên gạch loại gạch bằng đất nung màu đỏ, kích thước (20x7,5x12)cm cầm trên tay trái và 01 (một) cục đá xanh (loại đá xây móng nhà), kích thước khoảng (5x10)cm cầm bằng tay phải rồi quay lại thì H1 và B bỏ chạy và thấy H đang đánh Mỹ nên T xông đến chỗ anh H. Khi đứng đối diện và cách anh H 02 (Hai) mét thì T cầm cục đá bằng tay phải ném trúng vào phần trán làm anh H chảy máu, ngã xuống đường bất tỉnh, rồi thả viên gạch xuống đất bên cạnh đầu của H. Lúc này, B, H1 cầm gạch ném lại về hướng Mỹ và T nhưng không trúng ai. Thấy H bị chảy máu trên đầu, bất tỉnh thì M điều khiển xe chở T bỏ chạy. Khi đi được khoảng 01 km thì T nói với M quay lại rồi đưa anh H đi cấp cứu. Khi này, B và H1 đang đỡ anh H dậy thì T và M chạy đến và đưa anh H lên xe mô tô đi cấp cứu tại Bệnh viện Q tỉnh Gia Lai rồi T,Mỹ đi xuống tỉnh Quảng Nam trốn. Khi tới tỉnh Quảng Nam thì M và T đến nhà trọ của bà Nguyễn Thị H4, mẹ của T, và kể lại toàn bộ sự việc cho bà H4 nghe. Bà H4 đã động viên T và M về Gia Lai và đến Cơ quan công an để đầu thú nên sáng ngày 21/02/2023, T cùng M đón xe khách về Công an xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Còn anh Trần Tấn H bị chấn thương sọ não, điều trị tại Bệnh viện 211 rồi được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu và điều trị đến ngày 01/3/2023 xuất viện. Tại Giấy chứng nhận thương tích số 225 ngày 20 tháng 3 năm 2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai đối với Trần Tấn H, tình trạng thương tích lúc vào viện: Vết thương phức tạp vùng trán #10cm chưa khâu lộ sọ, xây xát da gồi (P). CT scan: Dập, xuất huyết não trán hai bên. Tụ máu khoang dưới nhện trán (P), tụ máu, khí ngoài và dưới màng cứng trán (P). Tụ máu dọc liềm đại não, V2 lún dọ trán (P). Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 155/KLTTCT-TTPY đối với Trần Tấn H, kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tấn H tại thời điểm giám định là 69% (Sáu mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng Thông tư. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Tấn H yêu cầu Nguyễn M và Nguyẽn Vĩnh Trường T2 bồi thường số tiền 128.000.000 đồng, trong đó, tiền viện phí đợt 1 là 37.000.000 đồng, tiền lắp sọ nhân tạo đợt 40.000.000 đồng, tiền cấp cứu chuyển viện 6.000.000 đồng, bồi thường tinh thần số tiền 45.000.000 đồng. Các bị cáo Nguyễn M và Nguyễn Vĩnh T đã bồi thường cho bị hại Trần Tấn H số tiền 70.000.000 đồng. [2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2023/HS-ST ngày 16 - 8 - 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Nguyễn M, Nguyễn Vĩnh T phạm tội: “Giết người” Về hình phạt: áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; Điều 58, Điều 15, Điều 57; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn M 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2023. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo khác, về trách nhiệm dân sự và án phí. [3] Kháng cáo: Ngày 29-8- 2023 bị cáo Nguyễn M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nêu lý do kháng cáo là mức hình phạt là quá nghiêm khắc so với hành vi phạm tội. [4] Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, trình bày là bị cáo không trực tiếp gây thương tích vào đầu của bị hại, nên xin được giảm nhẹ. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung các kháng cáo: Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, áp dụng đúng quy định pháp luật; do không có tài liệu chứng cứ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 02 giờ ngày 20/02/2023, sau khi có lời qua tiếng lại trong quá trình ngồi uống bia tại cầu K, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai về việc Mỹ ném xô đá xuống đường, thì Trần Tấn H nói với M “bạn say rồi à”, M nói lại “sao mày lại nói vậy”, sau đó cả nhóm giải tán đi về. Nguyễn Thanh H1 chở Trần Tấn H và Trần Tấn B đi về hướng xã N, còn Nguyễn Vĩnh T chở Nguyễn M đi phía sau. Nguyễn M cho rằng H có thái độ không đúng với mình nên đã rủ Nguyễn Vĩnh T chặn đầu xe của H1 để đánh H, thì T điều khiển xe mô tô chặn trước đầu xe của H1, rồi M và T xuống xe tiến tới xe của nhóm Trần Tấn H. T đạp xe của H1 làm cả ba người ngã xuống đường, còn M lao vào dùng tay đánh 4-5 cái vào mặt H. Sau đó M lấy 01 cây lau nhà có cán bằng kim loại đánh 01 cái trúng vào vùng cổ bên trái của anh H,
còn T đến đống gạch, đá ở gốc cây đối diện quán cà phê nhặt 01 viên gạch loại gạch bằng đất nung màu đỏ cầm trên tay trái và 01 cục đá xanh (loại đá xây móng nhà) cầm bằng tay phải và quay lại chỗ anh H. Khi đứng đối diện và cách anh H 02 mét thì T cầm cục đá bằng tay phải ném trúng vào phần trán làm anh H chảy máu, ngã xuống đường bất tỉnh và thả viên gạch xuống đất bên cạnh đầu của H. Hậu quả làm Trần Tấn H bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 69%. Hành vi của các bị cáo Nguyễn M, Nguyễn Vĩnh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. [3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Trong vụ án này, bị cáo M là người khởi xướng và rủ rê bị cáo T đánh bị hại. Khi chặn xe và bị cáo T đạp xe bị hại ngã xuống thì bị cáo M xông vào đánh nhiều cái trước. Cả hai bị cáo thống nhất cùng xông vào đánh bị hại nên bản án sơ thẩm buộc cả hai bị cáo cùng chung chịu hậu quả là đúng quy định. Về tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội các bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét hậu quả chết người chưa xảy ra, nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự. Bản án sơ thẩm đã nhận định đúng về nội dung vụ án, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ để quyết định mức hình phạt phù hợp với hành vi và hậu quả đã gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm. [4] Các quyết định còn lại của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét. Việc thi hành án được thực hiện theo quyết định của bản án sơ thẩm. [5] Về án phí hình sự phúc thẩm bị cáo M phải chịu là 200.000 đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn M, giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm. 2. Về hình phạt: áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn M 13 (Mười ba) năm tù về tội: “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-02-2023 3. Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét; đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị; việc Thi hành án thực hiện theo Bản án sơ thẩm. 4. Về án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Nguyễn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Vụ I-Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - Công an tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; - Bị cáo (TTG tống đạt cho bị cáo); - Bị hại; Nguyễn Tấn Long - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án (ĐTT-...). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |