- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tín dụng"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng Thương mại cổ phần A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 454/2022/DS-ST Ngày: 29/9/2022 V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thủy Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hoàng Hoa;
2. Ông Châu Văn Bình.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Dương Kim Cương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Huỳnh Thanh Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 169/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2022 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2022/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 256/2022/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần A;
Địa chỉ: Tầng 1 và 2 tòa nhà M, phường N, quận X, thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Hàn Ngọc B – Chức vụ: Tổng giám đốc;
Đại diện ủy quyền: Trần Thị Thu C – Chức vụ: Giám đốc trung tâm quản lý nợ ngân hàng bán lẻ (theo giấy ủy quyền số 27869.20 ngày 04/01/2021);
Ủy quyền lại: Nguyễn Trường D, sinh năm 1993. Chức vụ: nhân viên ngân hàng;
Theo giấy ủy quyền số 008705.22 ngày 16/02/2022;
Địa chỉ: tầng 6, tòa nhà M1, phường N1, quận Y, thành phố Hồ CHí Minh;
Bị đơn: Huỳnh Thị Bích E, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Khu M2, thị trấn N2, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
(Anh D có mặt, bà E vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ngân hàng Thương mại cổ phần A, có đại diện ủy quyền là anh Nguyễn Trường D trình bày:
Ngày 26/8/2020 Ngân hàng thương mại cổ phần A - Nguyễn Văn Trỗi và bà Huỳnh Thị Bích E có ký hợp đồng tín dụng số 6301945.20 để bà E vay số tiền 784.000.000 đồng, mục đích vay: mua xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, thời hạn vay 84 tháng từ ngày 27/8/2020 đến ngày 26/8/2027, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,2%/năm (lãi suất ưu đãi áp dụng trong 12 tháng đầu, sau đó lãi suất sẽ điều chỉnh mỗi 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,9%/năm). Phương thức thanh toán: mỗi tháng trả số nợ gốc 9.333.334 đồng vào cùng ngày trả lãi, số tiền gốc còn lại trả vào tháng cuối cùng. Trả lãi vào ngày 29 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 29/9/2020. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
Ngân hàng đã giải ngân cho bà E theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6301945(1).20 ngày 26/8/2020 với số tiền 784.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay, bà E đã thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA biển số 63A-149.65 theo hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8057361.20 ngày 26/8/2020.
Tính đến ngày 29/6/2021 bà E đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 136.056.399 đồng, trong đó nợ gốc là 84.000.006 đồng và lãi là 52.056.393 đồng thì bà E không trả nợ nữa nên ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn.
Ngân hàng TMCP A khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Bích E phải trả số tiền dư nợ tạm tính đến ngày 15/10/2021 là 728.355.181 đồng (trong đó nợ gốc là 699.999.994 đồng và nợ lãi là 28.355.187 đồng), yêu cầu bà E tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 16/10/2021 đến khi trả hết số nợ vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký.
Đối với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA biển số 63A-14965 thì ngân hàng đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hiện nay ngân hàng không xác minh được tài sản thế chấp đang ở đâu, tình trạng ra sao, giá trị còn lại của tài sản thế chấp không đủ trả nợ vay nên ngân hàng không yêu cầu tòa án giải quyết về hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8057361.20 ngày 26/8/2020.
* Bị đơn bà Huỳnh Thị Bích E mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà E vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn anh D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, yêu cầu bà E trả số tiền dư nợ tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 867.674.794 đồng (trong đó nợ gốc là 699.999.994 đồng, lãi trong hạn là 6.106.051 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 30/6/2021 đến ngày 29/9/2022 là 161.568.749 đồng), thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật, yêu cầu bà E tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/9/2022 đến khi trả hết số nợ vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký.
Ngân hàng đồng ý trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 033801 ngày 25/8/2020 cho bà E khi bà E thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn ngân hàng Thương mại cổ phần A khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Bích E trả số tiền nợ gốc là 699.999.994 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 6301945.20 nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp“Hợp đồng tín dụng” được xem xét, giải quyết theo quy định tại Điều 95 luật các tổ chức tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn bà E cư trú tại số Khu M2, thị trấn N2, huyện P, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn bà Huỳnh Thị Bích E đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bà E.
Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng Thương mại cổ phần A, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 6301945.20 ngày 26/8/2020, hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8057361.20 ngày 26/8/2020, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6301945(1).20 ngày 26/8/2020 và các thông báo thu hồi nợ có chữ ký của bà E, có căn cứ để xác định giữa ngân hàng Thương mại cổ phần A và bà Huỳnh Thị Bích E có ký hợp đồng tín dụng số 6301945.20 để bà E vay số tiền 784.000.000 đồng, mục đích vay: mua xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, thời hạn vay 84 tháng từ ngày 27/8/2020 đến ngày 26/8/2027, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,2%/năm (lãi suất ưu đãi áp dụng trong 12 tháng đầu, sau đó lãi suất sẽ điều chỉnh mỗi 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,9%/năm). Phương thức thanh toán: mỗi tháng trả số nợ gốc 9.333.334 đồng vào cùng ngày trả lãi, số tiền gốc còn lại trả vào tháng cuối cùng. Trả lãi vào ngày 29 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 29/9/2020. Ngân hàng đã giải ngân và bà E đã nhận đủ số tiền vay 784.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng bà E đã trả được số tiền nợ gốc 84.000.006 đồng và tiền lãi trong hạn là 52.056.393 đồng, còn nợ lại số tiền vốn gốc là 699.999.994 đồng, số tiền lãi trong hạn là 6.106.051 đồng và lãi quá hạn tính từ ngày 30/6/2021 đến ngày 29/9/2022 là 161.568.749 đồng, tổng cộng là 867.674.794 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện cho bà E trả nợ nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà E có nghĩa vụ trả số tiền trên cho ngân hàng. Bà E còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/9/2022 đến khi trả hết số nợ vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký.
Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Huỳnh Thị Bích E nhưng bà E vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xem như bà E không có phản đối gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA biển số 63A-14965 và hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8057361.20 ngày 26/8/2020 giữa ngân hàng Thương mại cổ phần A và bà Huỳnh Thị Bích E, tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn anh D trình bày không xác định được vị trí và tình trạng xe, không có tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 033801 ngày 25/8/2020 thì ngân hàng đồng ý trả lại khi bà E thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà E phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 35, 39, 92, 147, 220, 227, 228, 235 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào các điều 92, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng Thương mại cổ phần A.
Buộc bà Huỳnh Thị Bích E có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tính đến ngày 29/9/2022 số tiền: Nợ gốc: 699.999.994 đồng; lãi trong hạn: 6.106.051 đồng, lãi quá hạn: 161.568.749 đồng. Tổng cộng: 867.674.794 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 30/9/2022 bà Huỳnh Thị Bích E còn phải tiếp tục trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6301945.20 ngày 26/8/2020, Bộ Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng kèm theo Hợp đồng tín dụng và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6301945(1).20 ngày 26/8/2020 cho đến khi trả hết nợ.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của ngân hàng Thương mại cổ phần A trả lại cho bà Huỳnh Thị Bích E Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 033801 ngày 25/8/2020 theo hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 8057361.20 ngày 26/8/2020 khi bà E thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Bích E phải chịu 38.030.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 17.135.000 đồng theo biên lai số 0024764 ngày 24/5/2022 của E cục Thi hành án Dân sự huyện Chợ Gạo.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - E cục THADS huyện Chợ Gạo; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thủy Uyên |