vanban.org

Bản án 454/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kh ng c o của à Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị.

Huỷ Bản n h nh sự s thẩm số 03/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 của Toà n nhân dân tỉnh Quảng Trị và chuyển hồ s vụ n cho Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Quảng Trị để điều tra lại. Về n phí: Bà Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị không phải chịu n phí h nh sự phúc thẩm và dân sự phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 454/2021/HS-PT Tuyên án 22/11/2021
Phúc thẩm Bản án 272/2023/HS-PT Tuyên án 18/07/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kh ng c o của à Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng h nh sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 454/2021/HS-PT
Ngày: 22 – 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thông;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thanh Liêm;

Ông Lê Phước Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Vào ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 247/2021/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm 2021 đối với ị c o Trần Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị hại đối với Bản n h nh sự s thẩm số 03/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Trần Thị N, sinh năm 1986 tại tỉnh Quảng Trị; n i ĐKNKTT và chỗ ở: thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn n; tr nh độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn gi o: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng M (đã chết) và à Ngô Thị H, sinh năm 1954; chồng: Nguyễn Thế C, sinh năm 1985 (đã ly hôn vào th ng 7/2017) Nguyễn Trần Thảo N, sinh năm 2014; Anh chị em ruột: Có 03 người, ị c o là con cuối trong gia đ nh. Tiền n, tiền sự: Không. Bị c o ị tạm giam từ 02/11/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

Bà Nguyễn Thị G; trú tại: thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị N: Ông Lê Văn H - Luật sư của Công ty luật V thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có Đ n xin xét xử vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị G: Ông Trần Đức A - Luật sư của Văn phòng Luật sư T & Cộng Sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Công ty Huyndai P Quảng Trị; địa chỉ: tỉnh Quảng Trị; người đại diện hợp ph p: Ông Nguyễn Mạnh C - Chức vụ: Gi m đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Ngọc M – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư T – Đoàn luật sư tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn B Hoàng L, trú tại: thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Ngoài ra trong vụ n còn có những người ị hại kh c, nguyên đ n dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có kh ng c o, không ị kh ng c o, kh ng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2011, Trần Thị N ắt đầu thực hiện hoạt động cho người kh c vay tiền rồi cho vay lại với lãi suất cao h n để hưởng chênh lệch lãi suất. Trước tháng 8/2016, N vay tiền của nhiều người kh c rồi cho Nguyễn Thị Lan H, trú tại thành phố Đ vay lại để hưởng tiền chênh lệch lãi suất. Trần Thị N đã ị Nguyễn Thị Lan H chiếm đoạt 7.000.000.000đ. Do ị H chiếm đoạt tiền nên từ sau th ng 8/2016, để có tiền trả tiền gốc và lãi cho khoản tiền N đã vay trước đó nên đã đưa ra thông tin gian dối là “vay tiền để làm đ o hạn ngân hàng cho người kh c” đồng thời hứa trả lãi suất cao là từ 3.000 đồng đến 7.000đ/1.000.000đ/ngày (có những khoản vay N khai phải trả tiền lãi từ 13.000 đồng đến 20.000 đồng/1.000.000đ/ngày) làm cho những người đã cho N vay tiền tin tưởng tiếp tục cho vay thêm tiền. Khi nhận được tiền vay, N sử dụng số tiền này vào việc trả tiền gốc, tiền lãi cho c c khoản vay trước, một phần nhỏ tiền sử dụng vào việc mua sắm tài sản và chi tiêu c nhân. Đến đầu th ng 08/2018, N không còn khả năng thanh to n tiền gốc, tiền lãi cho những người đã cho N vay nên những người này t m N để đòi nợ. Để những người cho vay tiền tin tưởng N còn khả năng thanh to n c c khoản tiền nợ, N viết Giấy cam kết vào ngày 24/8/2018 sẽ trả tiền. Do không có tiền trả lại những người cho N vay tiền, để đảm ảo tính mạng, sức khỏe cho ản thân và gia đ nh ngày 23/8/2018, N đã đến C quan cảnh s t điều tra Công an thành phố Đ tr nh o về việc mất khả năng trả nợ để xin được ảo vệ trước sự truy ép của c c chủ nợ.

Với phư ng thức, thủ đoạn trên đây, Trần Thị N đã nhiều lần chiếm đoạt tài sản của 09 ị hại với tổng số tiền 331.420.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, N dùng phần lớn vào việc trả nợ, lãi cho người vay trước. Ngoài ra, N còn sử dụng 8.606.389.688 để chi tiêu, mua sắm c nhân. Trong đó có số tiền ị Lan H chiếm đoạt là 7.000.000.000 đồng. Trả lãi cho c c à Đặng Thị H Y, Nguyễn T H, Trư ng A T tổng cộng 1.270.000.000 đồng (trong đó: bà Y 255.000.000 đồng, à T 315.000.000 đồng, à H 700.000.000 đồng).

N khai đã sử dụng số tiền còn lại khoảng h n 303.800.000.000 đồng để trả tiền lãi cho c c khoản vay ph t sinh sau thời điểm Lan H vỡ nợ. Quá trình điều tra, N khai đã phải trả lãi suất cho c c ị hại với nhiều mức kh c nhau, cụ thể ở mức thấp nhất là 2.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, mức cao nhất là 20.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Tuy nhiên tất cả c c ị hại đều tr nh ày chỉ cho N vay với mức lãi suất từ 500 đồng/01 triệu đồng/01 ngày đến 2.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày, ở mức lãi suất cho vay này không vượt qu 20%/năm (mức trần lãi suất/năm của Ngân hàng Nhà nước). Trong khi đó, c c giấy vay tiền giữa N và c c ị hại không thể hiện mức lãi suất cụ thể mà chỉ ghi nội dung: “Mức lãi suất theo thỏa thuận của c c ên”. C quan điều tra đã tiến hành đối chất nội dung này nhưng giữa ị c o và c c ị hại giữ nguyên quan điểm của m nh trong việc giao nhận tiền lãi vay. Ngoài ra N cũng không cung cấp chứng cứ, tài liệu để chứng minh c c mức lãi suất như đã khai tại C quan điều tra nên không có căn cứ để x c định chính x c số tiền này về nội dung này.

Về trách nhiệm dân sự: C c ị hại yêu cầu ị c o Trần Thị N ồi thường tổng cộng 385.420.000.000 đồng cụ thể như sau: Vợ chồng ông, à Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thị T H 50.000.000.000 đồng; à Hoàng Thị Cẩm L 5.000.000.000 đồng; à Nguyễn T H 175.500.000.000 đồng; à Hồ Thị Tường V 42.240.000.000 đồng; vợ chồng ông, à Đỗ Công T, Nguyễn Thị Sư ng T 21.250.000.000 đồng; à Phạm Thị Trà M 35.600.000.000 đồng; à Đặng Thị H Y 2.100.000.000 đồng; à Trư ng A T 3.500.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị G: 50.230.000.000 đồng. Bị c o đồng ý ồi thường toàn ộ số tiền đã chiếm đoạt là 331.420.000.000 đồng nhưng hiện chưa có điều kiện. Riêng số tiền 54.000.000.000 đồng của à Nguyễn T H (50.000.000.000 đồng tiền lãi và 4.000.000.000 đồng tiền vay trước thời điểm mất khả năng thanh to n) N không đồng ý hoàn trả.

Trong đó, có trường hợp của à Nguyễn Thị G, ngoài hành vi chiếm đoạt số tiền 46.930.000.000 đồng của à Nguyễn Thị G, Trần Thị N còn chiếm đoạt 3.300.000.000 đồng cụ thể như sau: Để trả nợ cho c c khoản vay trước đó của N, từ khoảng th ng 4/2018 đến tháng 8/2018, N đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối là làm đ o hạn ngân hàng cho người kh c đối với à G và bà Hồ Thị Tường V để à G, bà V tin tưởng cho N vay tiền. Tính đến thời điểm ngày 08/8/2018, N còn nợ à V số tiền gần 50.000.000.000 đồng, nợ à G số tiền 46.930.000.000 đồng, nợ c c c nhân kh c với số tiền rất lớn mà không có khả năng trả lại và đang ị nhiều người r o riết t m đòi nợ. Khoảng đầu th ng 8/2018, N gọi điện đề nghị à V cho vay thêm tiền, bà V yêu cầu N phải đưa 10.000.000.000 đồng về tr nh cho à V thì sẽ cho N vay thêm số tiền mới là từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng. Ngày 08/8/2018, N gọi điện thoại đề nghị à G cho vay 10.000.000.000 đồng để đưa đi “Trình tiền cho người kh c” và cam kết trong ngày sẽ trả lại số tiền này cho bà G. Khoảng trưa ngày 08/8/2018, N nhờ ông Nguyễn B Hoàng L ( ạn trai N) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Camry BKS 74A-081.43 (xe ông L) chở đến nhà bà G để vay tiền. Tại đây, N thuyết phục à G cho N vay 10.000.000.000 đồng để “Trình tiền cho người kh c” rồi họ sẽ cho N vay lại thêm số tiền 20.000.000.000 đồng, khi có tiền N sẽ trả cho à G 10.000.000.000 đồng và trả nợ thêm cho à G c c khoản vay trước đó. Bà G tin N và cũng mong muốn lấy lại phần nào số tiền đã cho N vay cho nên bà G nói với N là giờ chỉ xoay xở được khoảng 7.000.000.000 đồng, N đồng ý. Do N còn nợ à G 46.930.000.000 đồng nên bà G đã trao đổi là sẽ đồng ý cho N vay số tiền 7.000.000.000 đồng, thời hạn trả là trong ngày 08/8/2018 với điều kiện Nguyễn B Hoàng L phải viết giấy và đứng tên vào hợp đồng vay tiền cùng với N. Lúc đầu ông L không đồng ý v cho rằng việc vay mượn không liên quan đến anh L nhưng do N thuyết phục L: “Cứ yên tâm viết đi chiều chắc chắn có tiền trả lại”. Do giữa 02 người có quan hệ t nh cảm, đồng thời ông L tin tưởng vào khả năng tài chính của N sẽ có tiền trả lại cho à G nên đã đồng ý viết giấy vay tiền giúp N theo lời à G yêu cầu. Sau khi viết xong hợp đồng vay tiền, do đợi à G đi lấy tiền lâu nên N nhờ ông L điều khiển xe ô tô chở N đến trụ sở Ngân hàng S - Chi nh nh Quảng Trị. Khi chở N đến ngân hàng, ông L nói với N là xe ô tô sẽ cho người kh c mượn nên N tìm xe kh c để đi. N đã liên lạc và mượn được xe ô tô của Hoàng Cẩm L nên nói với ông L đến chỗ L ở để lấy xe. Đến khoảng h n 14 giờ cùng ngày, ông L nhận xe ô tô Hyundai Tucson màu trắng, chưa gắn BKS từ chồng của bà L là ông Nguyễn Ngọc B rồi điều khiển đến Ngân hàng để đón N quay lại nhà à G. Khi cả hai gặp à G thì bà G nói, hiện tại chỉ có 2.800.000.000 đồng, có g sẽ đưa thêm tiền sau tại n i “Tr nh tiền”. N đồng ý. Lúc này, à G yêu cầu ông L phải là người đi “Tr nh tiền”, sau khi trình xong thì phải nộp tiền vào số tài khoản do à G cung cấp và cử ông Võ Ngọc C là em trai của ông Võ Văn T chồng bà G cùng với 02 thanh niên khác là ông Nguyễn Văn T và ông Võ Minh T đi cùng với ông L, còn N đi cùng xe ô tô với à G. Ông T điều khiển xe ô tô hiệu CX5 chở bà G, N và 01 thanh niên tên Cu Ri. Trước đó, N có trao đổi với ông L là sau khi bà G đưa tiền sẽ đưa đi tr nh cho à V nhưng không nói rõ là ai đi tr nh và tr nh như thế nào. Ông L nhận thức việc “Tr nh tiền” cho bà V là giao tiền cho à V xem, kiểm đếm, sau đó à V sẽ giao số tiền đó lại cho anh L rồi anh L nộp số tiền đó vào tài khoản theo yêu cầu của bà G. Ông L điều khiển xe ô tô Hyundai Tucson chở Võ Ngọc C, Nguyễn Văn T và Võ Minh T đưa số tiền 2.800.000.000.000 đồng đến Phòng giao dịch Ngân hàng S ở đường L, thành phố Đ. Bà G với ông T và N đi trên xe Mazda CX5 của à G đến dừng ở trước kh ch sạn Mường T (c ch Phòng giao dịch khoảng h n 100m) đợi.

Khi đến ngân hàng, ông L và anh C gặp à V rồi đưa tiền cho à V xem, kiểm đếm. Sau khi kiểm đếm xong ông L đưa tiền vào nộp vào tài khoản ngân hàng theo yêu cầu của à G nhưng à V ngăn cản và nói “Tiền còn thiếu, chưa đủ” rồi à V gọi điện cho N và nói: “Răng mà tiền đưa về trả cho chị mà cứ đòi nộp vô tài khoản là răng”, sau đó có nói thêm: “Tiền chưa đủ”. N liên lạc với ông L ảo đợi tí nữa có người đưa thêm tiền đến. Một lúc sau, bà G cho người đưa đến giao thêm 500.000.000 đồng cho ông C, ông L và bà V. Bà V yêu cầu đưa tiền ra xe ô tô cho người kh c kiểm đếm th ông C không đồng ý. Ông C gọi điện báo với à G th được à G đồng ý cho đưa tiền ra xe ô tô để kiểm đếm. Ông L trao đổi với N việc à V yêu cầu đưa tiền ra xe ô tô để cho người kh c kiểm tiền và cũng được N đồng ý. Lúc này, à Nguyễn Thị H (sinh năm 1966, trú tại khu phố 5, phường 1, thành phố Đ, ạn à V) điều khiển xe ô tô BKS 74A-052.67 đến trước Phòng giao dịch Ngân hàng S. Bà V yêu cầu đưa tiền ra xe ô tô của à H, ông C và ông L x ch tiền ra xe ô tô. Khi bà V lên xe ngồi ở hàng ghế sau, ông C và ông L giao tiền cho à V, ông L lên xe ngồi chứng kiến bà V kiểm đếm tiền rồi xuống xe và đến đứng cùng ông C. Khi bà V xuống xe, bà H điều khiển xe ô tô cầm theo số tiền 3.300.000.000 đồng rời đi. Lúc đó, ông L hỏi à V: “Tiền mô rồi”, bà V trả lời “Họ sợ quá đi rồi, tí nữa chị lấy lại cho” còn ông C gọi điện cho à G o sự việc tiền ị bà H đưa đi. Khi iết sự việc, à G yêu cầu N và anh L lấy tiền lại trả cho m nh th N gọi điện cho à V, được à V trao đổi là “Cứ lên đợi tại Ngân hàng S ở đường Trần Hưng Đạo” nhưng à V đã không đến trụ sở ngân hàng S và cũng không đưa lại tiền cho N.

Khi iết tiền ị lấy đưa đi, bà G tức giận nên đã túm tóc, áo và t t vào mặt N, yêu cầu N phải đưa đi t m người lấy tiền lại nhưng do N không iết ai đã lấy tiền nên không thể nói với à G. Sau đó, bà G đã yêu cầu ông L và N về nhà bà G để giải quyết. Tại đây, N nói với à G cho N thêm thời gian để kiếm tiền trả lại cho à G nhưng à G không đồng ý. Bà G yêu cầu ông L viết giấy cầm xe ô tô Hyundai Tucson, nếu không th bà G sẽ giữ cả hai người lại không cho về và báo Công an. N và L sợ à G o Công an nên làm theo yêu cầu của à G. Lo sợ bà G không cho về cũng như sợ sự việc làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín và công việc của m nh (ông L là c n ộ Công an huyện T, tỉnh Quảng Trị) nên ông L đã viết giấy cầm xe theo yêu cầu của à G. Tại thời điểm ông L viết giấy cầm xe, N ngồi ên cạnh thấy rõ việc viết giấy cầm xe. Mặc dù iết xe ô tô đó bà L chỉ cho N mượn để sử dụng đi lại và N phải có tr ch nhiệm quản lý, sử dụng đúng mục đích khi mượn nhưng không ngăn cản và đồng ý với việc ông L viết giấy cầm chiếc xe trên để được à G cho về. Sau khi rời nhà à G, N đến gặp à V để lấy lại tiền nhưng bà V không đưa lại số tiền 3.300.000.000 đồng trên cho N mà nói trừ vào c c khoản nợ à V cho N vay trước đó. N đồng ý và đã viết giấy trừ nợ số tiền 3.300.000.000 đồng vào sổ nợ của bà V. Đối với chiếc xe ô tô mượn của Hoàng Cẩm L , khi viết giấy cầm xe, N và ông L đều không thông báo cho bà L iết. Vài ngày sau, N có nói với bà L là xe đã ị à G giữ lại do N đang nợ tiền, đợi N xoay tiền trả cho bà G và lấy xe ra trả cho bà L . Ngày 10/8/2018, N đã vay được 3.000.000.000 đồng nhưng vẫn không trả cho bà G để lấy xe ô tô ra trả cho bà L mà giao cho bà V để à V tin tưởng cho N vay lại nhiều tiền h n như thỏa thuận trước đó. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, bà V tiếp tục trừ nợ số tiền này và không cho N vay tiền thêm. Sự việc này cả ông L và bà L đều không iết. Sau đó, N không được ai cho vay tiền nữa nên đã thỏa thuận chuyển nhượng đất, nhà của mình (lô đất ở đường Trường S n, thành phố Đ và nhà, đất ở Khu phố 10, Phường 5, thành phố Đ) cho bà G để lấy xe ô tô trả cho à L nhưng bà G không chấp nhận. Hiện N và ông L không có khả năng trả cho à G số tiền 3.300.000.000 đồng để lấy xe ô tô ra trả cho bà L , cũng không có khả năng trả lại cho bà L số tiền tư ng đư ng chiếc xe trên. Qu tr nh điều tra, à G khẳng định người mà bà G cho vay tiền trong ngày 08/8/2018 là Nguyễn B Hoàng L. N chỉ đứng tên cùng trong giấy vay tiền vì bà G chỉ tin tưởng và cho ông L vay. Tất cả c c giao dịch thỏa thuận vay tiền đều do à G trực tiếp thực hiện với ông L. Qu tr nh làm việc “tr nh tiền” với à V và ông C đều x c định: Anh L có thực hiện việc đi đến quầy giao dịch để nộp tiền vào tài khoản ngân hàng. Tuy nhiên, c c lời khai lại không trùng khớp nhau về thời điểm nộp tiền, cụ thể: Ông C khai ông L làm thủ tục nộp tiền khi à V chưa đến; à V khai khi gặp ông L thì ông L cầm tiền vào thẳng quầy thu ngân để thực hiện thủ tục nộp tiền nên à V ngăn cản lại. Còn ông L khai sau khi đến ngân hàng đưa tiền vào quầy giao dịch kiểm đếm ằng m y với à V xong thì ông L đưa tiền đến quầy giao dịch nộp tiền nhưng ị à V cản lại v thiếu tiền nên mới dừng việc nộp tiền vào tài khoản (lúc đó chỉ mới có 2.800.000.000 đồng). Sự việc diễn ra sau đó, ông C khai: Khi bà V yêu cầu đưa tiền ra xe ô tô cho bà V, ông C đã không đồng ý và liên lạc với à G, khi được à G đồng ý cho đưa tiền ra xe ô tô để kiểm đếm th ông C mới x ch tiền đi cùng với ông L đưa ra xe ô tô cho à V. Bà V khai: Sau khi đưa tiền ra xe ô tô của bà H, đã yêu cầu à H chở số tiền trên về cho m nh để trừ nợ vào số tiền gần 50.000.000.000 đồng mà N đang nợ mình. Bà V cũng tr nh ày là có hứa hẹn cho N vay từ 16.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng nếu N trả đủ cho à 10.000.000.000 đồng, tuy nhiên do N trả không đủ nên à đã không cho N vay tiền tiếp.

Qu tr nh làm việc với bà L , ông B và ông Y đều x c định thời điểm cho N mượn xe ô tô Hyundai Tucson và giao xe cho ông L là vào lúc h n 14 giờ ngày 08/8/2018. Bà L x c định chỉ cho N mượn xe với mục đích đi lại và không x c định thời hạn trả, khi cần sẽ gọi điện lấy xe lại. Khoảng vài ngày sau khi iết được thông tin xe của mình ị à G giữ lại v N nợ tiền của à G nên bà L hỏi N xe đâu rồi th N ảo: “Xe bà G đang giữ, đợi chị mấy ngày nữa lấy xe ra cho”. Do t nh cảm, mặt kh c N cũng đang nợ số tiền 5.000.000.000 đồng nên bà L phải chấp nhận đợi N xử lý lấy xe ra. Chiếc xe Huyndai này Hoàng Cẩm L mua của Công ty Hyundai P (trụ sở tại xã T, huyện T). Bà L mới trả cho Công ty Hyundai P số tiền 340.000.000 đồng, hiện còn nợ lại số tiền 650.000.000 đồng và đang đợi để làm thủ tục vay ngân hàng số tiền 650.000.000 đồng qua cho Công ty Hyundai P). Bà L đã liên hệ à G trao đổi đề nghị đưa xe về Công ty Hyundai để tiến hành đăng ký BKS và làm thủ tục vay ngân hàng để trả cho Hyundai số tiền 650.00.000 đồng còn lại, nếu à G muốn lấy xe th bà L sẽ làm thủ tục n ngang cho à G tại Công ty để à G làm chủ sở hữu chiếc xe, à G chỉ cần ỏ thêm số tiền 650.000.000 đồng nữa còn bà L sẽ không lấy lại số tiền 340.000.000 đồng v không muốn liên quan đến ph p luật nếu ị Công ty Hyundai khởi kiện nhưng à G không đồng ý. Trần Thị N gọi điện thỏa thuận sẽ chuyển nhượng cho à G lô đất ở đường Trường S n, thành phố Đ và nhà, đất ở khu phố 10, phường 5, thành phố Đ để à G trả lại chiếc xe trên cho bà L nhưng bà G không đồng ý. Sau đó, N không trao đổi, àn ạc hay có t c động nào kh c liên quan đến việc giao, chuyển nhượng đất, nhà hoặc trả tiền cho à G để lấy xe ô tô ra trả cho à L . Tổng cộng số tiền N chiếm đoạt của à Nguyễn Thị G là 50.230.000.000 đồng.

Qu tr nh điều tra, C quan điều tra thu giữ của à Nguyễn Thị G: 01 “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” đề ngày 08/8/2018, giữa ên cho vay là à Nguyễn Thị G với ên vay là Nguyễn Bá Hoàng L và Trần Thị N với số tiền vay là 7.000.000.000đ; 01 “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” đề ngày 03/8/2018, giữa ên cho vay là bà Nguyễn Thị G và ên vay là Trần Thị N số tiền vay là 27.370.000.000đ; 01 “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” đề ngày 03/8/2018, giữa ên cho vay là bà Nguyễn Thị G và ên vay là Trần Thị N với số tiền vay là 19.560.000.000đ; 01 “GIẤY CẦM XE” ngày 08/8/2018 tên người viết Nguyễn B Hoàng L, sinh năm 1989, HKTT: Khu phố 9 - Phường 1 - Đ - Quảng Trị; Số CMND: 197231958, ngày cấp 09/02/2015 với nội dung: Hôm nay, ngày 08/8/2018, tôi có vay Nguyễn Thị G số tiền 7.000.000.000đ. Tôi có để lại 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu: Hynhdai; số loại: TucSon, màu s n trắng. Tại c c Bản kết luận gi m định số 607/KLGĐ-PC09 ngày 17/7/2010, số 71/KLGĐ-PC09 ngày 30/12/2019, của Phòng Kỹ thuật h nh sự - Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

- “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” đề ngày 08/8/2018: Phần nội dung chữ viết trên tài liệu gửi gi m định từ (Hôm nay, ngày 08 th ng 08 năm 2018…nhận tiền một lần cùng ngày) là chữ viết của Nguyễn Bá Hoàng L. Chữ ký ên dưới chữ “BÊN CHO VAY” trên tài liệu gửi gi m định là chữ ký của Nguyễn Thị G. Chữ ký, chữ viết ên dưới chữ “BÊN VAY” là chữ ký, chữ viết của Trần Thị N và Nguyễn B Hoàng L;

- “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” đề ngày 03/8/2018: Phần nội dung chữ viết trên tài liệu gửi gi m định này từ (Hôm nay, ngày 3 th ng 8 năm 2018…nhận 1 lần cùng ngày) là chữ viết của Trần Thị N. Chữ ký ên dưới chữ “BÊN CHO VAY” là chữ ký của Nguyễn Thị G. Chữ ký ên dưới chữ “BÊN VAY” là chữ ký, chữ viết của Trần Thị N;

- “HỢP ĐỒNG VAY TIỀN” đề ngày 03/8/2018: Phần nội dung trên tài liệu gửi gi m định này từ (Hôm nay, ngày 3 th ng 8 năm 2018…nhận 1 lần cùng ngày) là chữ viết của Trần Thị N. Chữ ký ên dưới chữ “BÊN CHO VAY” là chữ ký của Nguyễn Thị G. Chữ ký ên dưới chữ “BÊN VAY” là chữ ký, chữ viết của Trần Thị N;

- “GIẤY CẦM XE” ngày 08/8/2018: Chữ viết, chữ ký trên tài liệu gửi gi m định này là chữ viết, chữ ký của Nguyễn B Hoàng L.

- Giấy x c nhận Trần Thị N đã trả số tiền 3.300.000.000 đồng cho à V do bà V cung cấp. Ngày 17/6/2019, C quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Trị ra Quyết định trưng cầu gi m định số 76/QĐ-PC01 gi m định chữ viết, chữ ký đối với c c tài liệu do Hồ Thị Tường V giao nộp. Ngày 10/7/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị có Kết luận gi m định số 582/KLGĐ-PC09, kết luận: Chữ ký, chữ viết trên c c tài liệu gửi đến gi m định này (trừ phần nội dung chữ ký, chữ viết ở mục người cung cấp Hồ Thị Tường V) là chữ ký, chữ viết của Trần Thị N.

- Chữ viết trên tài liệu cần gi m định là Quyển sổ có a ằng nhựa, màu xanh dư ng, kích thước 15cm x 11cm, mặt trước có in dòng chữ “Grand - Diện mạo mới” do Trần Thị N viết ra. Ngoài hành vi vay mượn tiền của 09 bị hại, Trần Thị N có thế chấp 01 xe ô tô Toyota Camry, Biển kiểm soát (BKS) 74A-069.18 tại Ngân hàng T mại cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Quảng Trị - V (gọi tắt là Ngân hàng) với giá trị tài sản thế chấp tại thời điểm ký hợp đồng là 978.000.000 đồng, sau đó mang cầm cố. Do đó, Ngân hàng tố giác N về hành vi phạm tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản”. Quá trình điều tra xác định như sau:

Khoảng th ng 8/2017, N mua xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Camry, màu s n nâu vàng, số khung: RL4BN3FK1H1005042; số m y: 6ARP291091, sản xuất năm 2017 sau đó đăng ký BKS: 74A - 069.18 (gọi tắt xe ô tô 74A-069.18). Ngày 23/8/2017, N đưa hai tài sản thế chấp tại Ngân hàng, cụ thể: 01 tài sản là xe ô tô 74A - 069.18 theo “Hợp đồng thế chấp tài sản” số 2308/2017/HĐTC ngày 23/8/2017, gi trị của tài sản thế chấp (xe ô tô 74A - 069.18) là 978.000.000 đồng; 01 tài sản là thửa đất ở đường Trường S n (phường Đông Lễ, thành phố Đ) mua vào th ng 8/2017, có diện tích 290m2 theo “Hợp đồng thế chấp ất động sản” số 2308/2017/HĐTC ngày 23/8/2017, gi trị của tài sản thế chấp là 2.267.169.100đ để vay số tiền 2.300.000.000đ theo “Hợp đồng cho vay hạn mức” số 2308/2017/HĐTDHM/NHCT450 ngày 23/8/2017, thời hạn vay 01 năm từ ngày 23/8/2017 đến hết ngày 23/8/2018. Trong Hợp đồng này thể hiện nội dung: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới Hợp đồng này sẽ được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam”. Ngân hàng đã giao đủ cho N số tiền vay là 2.300.000.000 đồng, trong đó thế chấp xe ô tô 74A - 069.18 vay được số tiền 600.000 đồng.

Đến khoảng giữa th ng 7/2018, do cần tiền để trả nợ tiền vay cho người khác nên N đã liên hệ và đem xe ô tô 74A - 069.18 đến nhà ông Lê Xuân L (sinh năm 1971, trú tại khu phố 2, phường 1, thành phố Đ) cầm cố lấy 500.000.000 đồng. Khi vay tiền của ông L , N viết một giấy vay tiền với nội dung vay số tiền trên và để lại xe ô tô 74A - 069.18 để làm tin (giấy vay tiền này đã ị thất lạc). Đến khoảng một tuần sau, khi N đang ở thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H th à Hoàng Thị Nguyệt A điện thoại cho N hỏi N cầm xe được mấy, N trả lời cầm được 500.000.000 đồng, à A đề nghị N lấy xe ô tô về cầm chổ kh c với gi cao h n th N đồng ý. Sau đó, N điện thoại cho ông L về việc sẽ có ạn của N đến lấy lại xe ô tô và trả tiền gốc, lãi cho ông L . Cùng ngày hôm đó, bà A liên lạc với ông Hoàng Đức Y (sinh năm 1983, trú tại thành phố Đ, là ạn è của à A) để cầm xe ô tô trên và được ông Y với gi 900.000.000 đồng. Theo chỉ dẫn của à A, ông Y cùng vợ là à Nguyễn Thị Kim N đến nhà ông L trả số tiền cầm xe ô tô là 530.000.000 đồng và lấy xe ô tô, giấy vay tiền (do N viết) về nhà cất giữ. Số tiền còn lại là 370.000.000 đồng theo thỏa thuận, ông Y đã giao cho bà A và bà A đã trừ nợ tiền vay do N đã vay của à A trước đó chứ không giao lại cho N.

Đến khi N ị tố gi c về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông Y muốn thu hồi lại khoản tiền đã cho N vay nên đã mang xe ô tô trên giao cho ạn là ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1983, trú tại số nhà 49, đường Đinh Liệt, phường Tăng Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) và yêu cầu N trả lại tiền mới giao xe ô tô. Cũng từ giai đoạn này, ông Y không phối hợp với C quan điều tra trong việc cung cấp thông tin vụ việc, tang vật và tài liệu liên quan đến việc cầm xe ô tô này. Đến ngày 09/4/2019, ông Y mới khai rõ toàn ộ sự việc và tự nguyện phối hợp với C quan điều tra trong việc giao nộp tang vật liên quan (xe ô tô 74A - 069.18). C quan điều tra x c định: Ngân hàng không có văn ản đồng ý cho N mang tài sản là xe ô tô BKS 74A - 069.18 đi cầm cố, thế chấp hay chuyển nhượng cho người kh c. Đến nay, đã hết thời hạn trả nợ theo hợp đồng vay nhưng N vẫn chưa trả khoản nợ đã vay và không mang được tài sản thế chấp đến cho Ngân hàng để xử lý theo quy định. Liên quan đến việc thực hiện tr ch nhiệm, nghĩa vụ của N đối với c c Hợp đồng đã ký kết nêu trên, Trần Thị N đã trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo Hợp đồng số 2308/2017/HĐTDHM/NHCT450 ngày 23/8/2017 và Văn ản sửa đổi, ổ sung hợp đồng cho vay hạn mức số 2308/2017-HĐCV-SĐBS/NHCT450 ngày 15/6/2018 như sau: Ngày 07/3/2018, trả nợ gốc 2.300.000.000 đồng, trả tiền lãi là 20.643.284; ngày 24/3/2020, trả tiền gốc là 2.300.000.000 đồng. Theo Công văn số 12/BB-CNQTI-2019 ngày 19/6/2020 của Ngân hàng V - Chi nh nh tỉnh Quảng Trị th tính đến ngày 19/6/2020, N nợ số tiền gốc vay là 2.100.000.000 đồng, tiền lãi là 1.033.292.826 đồng của ngân hàng. Tại B n án h nh sự s thẩm s 03/2021/HS-ST ngày 29/01/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Qu ng Trị quy t ịnh: Về H nh phạt và tội danh: Tuyên bố ị c o Trần Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật H nh sự 2015; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự 2015: Xử phạt ị c o Trần Thị N: Tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày ắt tạm giam 02/11/2018. Về tr ch nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 164, Điều 288, Điều 585, 587 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật h nh sự 2015, xử: Buộc ị c o Trần Thị N phải ồỉ thường cho 09 ị hại với tổng số tiền là 331.420.000.000 đồng; trong đó, à Nguyễn Thị G: 50.230.000.000 đồng Ngoài ra, bản n s thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kh ng c o theo quy định của pháp luật. Ngày 01/02/2021, Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị kh ng c o ản n về phần chiếc xe ô tô Hyundai Tucson. Ngày 08/02/2021, à Nguyễn Thị G kh ng c o ản n h nh sự s thẩm đề nghị huỷ ản n để điều tra và xét xử lại vụ n về phần tuyên uộc ị c o N đối với số tiền 3.300.000.000 đồng là không đúng, ỏ lọt tội Nguyễn B Hoàng L. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:

Bà Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị vẫn giữ nguyên yêu cầu kh ng c o.

Y kiến của Luật sư Trần Đức A bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị G: Đối với số tiền 3.300.000.000 đồng chính ông Nguyễn B Hoàng L trực tiếp viết và ký tên vào Hợp đồng vay tiền ngày 08/8/2018, ị c o N chỉ ký tên với tư c ch người làm chứng. V trước đó, N đã vay mượn bà G nhiều lần với số tiền h n 46 tỉ đồng nhưng không có khả năng thanh to n. Chính v à G tin tưởng vào L nên mới cho L vay và L cũng trực tiếp nhận tiền từ à G và cầm số tiền đi “tr nh tiền” cho à Hồ Thị Tường V; đồng thời, theo thoả thuận, sau khi „tr nh tiền” xong, L có tr ch nhiệm chuyển tiền vào tài khoản cho à G. Tuy nhiên, L đã thiếu tr ch nhiệm để cho à V mang tiền đi; lẽ ra L phải đến nhà à V đòi tiền lại nhưng L không đi, mặc dù à G đã có yêu cầu L cùng đi đến nhà bà V lấy tiền lại; hoặc phải tr nh o ngay với c quan Công an về hành vi của bà V. Sau sự việc xảy ra, giữa à G và L có nhiều tin nhắn qua lại với nhau, đã có kết quả gi m định và có trong hồ s vụ n, thể hiện L nhận tr ch nhiệm trả số tiền này và còn nhiều lần đe doạ à G. Toà n cấp s thẩm tuyên uộc N có tr ch nhiệm trả số tiền này cho à G là không đúng; đồng thời, không truy cứu tr ch nhiệm h nh sự của L là ỏ lọt tội phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ ản n s thẩm để điều tra lại.

Y kiến của bà Nguyễn Thị G: Thống nhất như ý kiến của Luật sư. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo huỷ ản n h nh sự s thẩm.

Y kiến của bị cáo Trần Thị N: Bị c o x c định giữa ị c o và L không có hùn vốn làm ăn chung với với nhau, chỉ là do quen iết, có t nh cảm với nhau nên mới nhờ L vay dùm tiền và sau đó ị c o đã viết giấy trừ nợ cho à V nên ị c o có tr ch nhiệm trả cho à G số tiền này.

Y kiến của ông Nguyễn Bà Hoàng L: Thực tế tôi vay 3,3 tỉ đồng của à G là vay dùm cho N để tr nh tiền cho à V; sau khi trình tiền xong, tôi định chuyển tiền vào tài khoản cho bà G như thoả thuận nhưng ị à V ngăn cản, nhằm để kiểm đếm lại tiền do còn thiếu, sau đó ị à V cho người chở đi, chứ tôi không có ý định chiếm đoạt tiền của à G. Về c c tin nhắn trên điện thoại đã trích ra tại hồ s vụ n, không phải do tôi trực tiếp nhắn tin, N không thừa nhận nên không iết ai đã nhắn c c tin nhắn này. Lý do tôi không đi đến nhà à V đòi lại 3,3 tỉ đồng và gần 2 năm sau mới làm đ n tố c o à G và yêu cầu điều tra làm rõ vụ việc là do tôi lo sợ ị ảnh hưởng đến công việc của m nh đang là công an huyện. Về chiếc xe Huyndai Tucson, thực tế tôi viết Giấy cầm xe cho à G để vay khoản tiền 7 tỉ đồng sau khi đã nhận được tiền và đi tr nh tiền về do ị à G đe doạ ép uộc. Theo tr nh ày của N là đúng, tôi không có hùn vốn làm ăn chung với N và N nhận tr ch nhiệm trả số tiền này, cũng như quyết định của ản n h nh sự s thẩm là đúng với thực tế và qui định của ph p luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử c kh ng c o của à G và của Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị, giữ nguyên ản n s thẩm. Y kiến của ông Võ Ngọc Mậu đại diện theo uỷ quyền Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị: Đối với chiếc xe Huyndai Tucson là do N mượn của à Hoàng Cẩm L , N iết rõ nhưng vẫn đồng ý để cho L viết giấy cầm cố thế chấp cho bà G để vay tiền. C c c quan tố tụng cấp s thẩm không truy cứu tr ch nhiệm h nh sự đối với N và L là có thiếu sót, dẫn đến x c định chiếc xe không phải là vật chứng của vụ n nên không xử lý uộc à G đang chiếm giữ phải có nghĩa vụ trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu và đồng thời dẫn đến sai phạm tiếp theo là x c định Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị không phải là nguyên đ n dân sự trong vụ n. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ ản n s thẩm để điều tra lại ổ sung thêm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Y kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng h nh sự. Về nội dung: Đối với kh ng c o của à Nguyễn Thị G đề nghị huỷ ản n s thẩm để điều tra lại do ỏ lọt tội phạm và tuyên uộc ị c o N trả số tiền 3,3 tỉ đồng là không đúng. Xét thấy, theo nhận định của ản n s thẩm cũng như c o trạng và kết luận điều tra đã thể hiện L không có ý thức chiếm đoạt số tiền của à G và sau đó N đã viết giấy trừ số tiền này vào c c khoản nợ của à V là có căn cứ. Đồng thời cả L và N cũng không có ý thức chiếm đoạt chiếc xe Huyndai Tucson nên không khởi tố, truy cứu tr ch nhiệm h nh sự của L và N và x c định Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị không phải là nguyên đ n dân sự là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử c kh ng c o của à Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị, giữ nguyên ản n s thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, ị c o Trần Thị N vẫn giữ nguyên lời khai như nội dung ản n s thẩm. Hội đồng xét xử có đủ c sở xác định: Trần Thị N đã thực hiện việc vay tiền của người này rồi cho người kh c vay lại với lãi suất cao h n để hưởng chênh lệch. Trong qu tr nh vay mượn, do mất khả năng thanh to n nên N dùng thủ đoạn gian dối nói là “vay tiền để làm đáo hạn ngân hàng” làm cho nhiều người trong và ngoài địa àn tỉnh Quảng Trị tin tưởng giao tiền cho N vay để lấy lãi. Với thủ đoạn đó, có 09 người ị hại đã giao cho N vay số tiền 331.420.000.000 đồng và đã ị N chiếm đoạt toàn ộ số số tiền này. Trong đó, có bà Nguyễn Thị G: 50.230.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của ị c o Trần Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật h nh sự 2015, Toà án cấp s thẩm đã xử phạt với mức n tù chung thân. Sau khi xét xử s thẩm ị c o không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét yêu cầu kh ng c o của à Nguyễn Thị G, đề nghị Toà n cấp phúc thẩm huỷ ản n h nh sự s thẩm để điều tra và xét xử lại vụ n đối với số tiền 3.300.000.000 đồng vì Toà án cấp s thẩm tuyên uộc ị c o N g nh tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và có tr ch nhiệm trả số tiền này là không đúng, ỏ lọt tội đối với Nguyễn B Hoàng L.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Toà n cấp s thẩm đã nhận định: “Đối với hành vi của Nguyễn Bá Hoàng L cùng N thực hiện việc viết, ký giấy vay 3.300.000.000 đồng của bà G. Quá trình điều tra xác định L tin tưởng vào khả năng tài chính của N và sẽ có tiền trả cho bà G nên thực hiện. Sau khi nhận tiền cho vay từ bà G, ông L đã thực hiện theo các yêu cầu của N và bà G khi đưa tiền về “Trình tiền” cho bà Hồ Thị Tường V. Ông L cũng không cùng ý chí, mục đích với N trong việc trả số tiền trên cho bà V. Trước khi nhận tiền từ bà G thì ông L và N cũng không bàn bạc, thống nhất gì về việc trình tiền, giao tiền, đưa tiền ra xe cho bà V. Khi gặp bà V để “Trình tiền” ông L đưa tiền cho bà V xem sau đó nộp tiền vào tài khoản do bà G yêu cầu, việc không nộp được tiền vào tài khoản ngân hàng là do bà V ngăn cản. Số tiền 3.300.000.000 đồng bị bà V lấy đi ông L không biết trước, vượt ngoài khả năng kiểm soát của ông L. Ông L không có mục đích, ý thức chiếm đoạt số tiền 3.300.000.000 đồng của bà G. Số tiền 3.300.000.000 đồng sau đó được bà V trừ nợ cho bị cáo thì bị cáo N là người thụ hưởng (Số tiền này bị cáo đã trừ vào số tiền bị cáo nợ bà Hồ Thị Tường V). Quá trình nhờ ông L cùng đứng tên giấy vay, việc trình tiền, bị lấy tiền mang đi…vv, đều nằm trong chuỗi thủ đoạn gian dối, tạo lòng tin của Trần Thị N để chiếm đoạt được số tiền 3,3 tỷ đồng của bà G mà thôi. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của ông L không phạm tội độc lập cũng như không đồng phạm với N về hành vi chiếm đoạt đối với số tiền 3.300.000.000 đồng của bà G”, là chưa có c sở vững chắc. Bởi v , L là một c n ộ Công an có đủ nhận thức, tr nh độ, năng lực để kiểm so t, khống chế t nh h nh. Số tiền 3,3 tỉ đồng sau khi được c n ộ thu ngân của Ngân hàng kiểm đếm xong trước mặt à V như thế đã tr nh tiền xong, lẽ ra L phải chuyển toàn ộ số tiền này vào tài khoản Ngân hàng cho bà G như thoả thuận nhưng lại đem ra xe cho à V để rồi à V cho người kh c chở đi; sau đó, à V không trả lại, ị c o N viết Giấy trừ nợ cho bà V. Tiếp đến N còn đưa cho à V 3 tỉ đồng nữa nhưng không trả nợ cho à G. Do đó, cần điều tra làm rõ giữa L và N có àn ạc thống nhất trước với nhau không; có quan hệ làm ăn chung với nhau không, (vì 3,3 tỉ đồng là số tiền lớn nên không thể tuỳ tiện đứng ra vay dùm); tại sao L lại từ chối không thừa nhận c c tin nhắn giữa à G với L từ ngày 8/8 đến ngày 26/8/2018; tại sao nội dung tin nhắn của L chứa đựng nội dung số tiền này L chịu tr ch nhiệm trả (“Số tiền của em có phải nhiều mô mà chị làm chi đến mức đường cùng...”, “Con N còn nợ chị nhiều, răng chị cứ đè em ra ri, dồn em vô bước đường cùng đi, nếu có thì em đã trả cho chị rồi, chứ không để ra hoàn cảnh ni mô...”; tại sao khi à G điện thoại, nhắn tin cho L cùng đi đến nhà à V để lấy lại tiền, L không đồng ý cùng đi; tại sao tại thời điểm xảy ra việc à V chở tiền đi, L không trình báo Công an; sự việc xảy ra vào ngày 8/8/2018 cho đến gần 2 năm sau ngày 30/6/2020 L mới làm Đ n tr nh o, ghi gửi cả Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Quảng Trị và C quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị nhưng không gửi cho C quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị... th mới có đầy đủ c sở dể truy cứu hoặc không truy cứu tr ch nhiệm h nh sự của L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Trường hợp nếu không truy cứu tr ch nhiệm h nh sự L thì L cũng phải chịu tr ch nhiệm dân sự số tiền này đối với à G. Với những phân tích như nêu trên, lẽ ra Toà n cấp s thẩm phải trả hồ s vụ n để điều tra ổ sung làm rõ c c vấn đề như đã nêu th mới có căn cứ để giải quyết vụ n một c ch triệt để, đúng qui định ph p luật. [3] Xét kh ng c o của Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị (Công ty) trình bày cho rằng về chiếc xe Huyndai Tucson là do Trần Thị N mượn của à Hoàng Cẩm L , N iết rõ nhưng vẫn đồng ý để cho L viết giấy cầm cố thế chấp cho à G để vay tiền, khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu. C c c quan tố tụng cấp s thẩm không truy cứu tr ch nhiệm h nh sự đối với N và L là có thiếu sót, dẫn đến xác định chiếc xe không phải là vật chứng của vụ n nên không xử lý uộc à G đang chiếm giữ tr i ph p luật phải có nghĩa vụ trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu và đồng thời dẫn đến sai phạm tiếp theo là x c định Công ty không phải là nguyên đ n dân sự trong vụ n. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ ản n s thẩm để điều tra lại ổ sung thêm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đối với N và L. Xét thấy, thực tế, chiếc xe này do à Hoàng Cẩm L đứng tên ký hợp đồng mua bán nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính nên vẫn thuộc quyền quản lý, sở hữu của Công ty; như phân tích tại Mục [2] yêu cầu kh ng c o của Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị sẽ được giải quyết khi vụ n điều tra lại. [4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kh ng c o của à Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị là có căn cứ, cần chấp nhận; ý kiến của Kiểm s t viên không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận; huỷ Bản n h nh sự s thẩm và chuyển hồ s vụ n để Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Quảng Trị điều tra lại vụ n theo qui định của ph p luật. [5] Về n phí phúc thẩm: Do kh ng c o được chấp nhận nên à Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị không phải chịu theo quy định của ph p luật.

V c c lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng h nh sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n. Tuyên xử:

1. Chấp nhận kh ng c o của à Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị.

2. Huỷ Bản n h nh sự s thẩm số 03/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 của Toà n nhân dân tỉnh Quảng Trị và chuyển hồ s vụ n cho Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Quảng Trị để điều tra lại.

3. Về n phí: Bà Nguyễn Thị G và Chi nhánh Hyundai P Quảng Trị không phải chịu n phí h nh sự phúc thẩm và dân sự phúc thẩm.

Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n./.

Cỡ chữ