- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chen Yen H và đồng phạm phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Cao Trung Ngh, Trần Thị Ngọc H4, Nguyễn Văn Đ1.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 454/2017/HS-PT Ngày 23 tháng 8 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán:
Ông Trương Văn Bình
Ông Đỗ Đình Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 77/2017/TLPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2017 đối với các bị cáo Chen Yen H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 446/2016/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị cáo có kháng cáo:
1/. Cao Trung Ngh, sinh ngày: 07/4/1955 tại T
, H1,
: ấp B
Đ, huyện B,
; Trình độ văn hóa: Đại học Kinh tế; Nghề nghiệp: thi công xây dựng; Con ông Cao Văn H2 Nh (sinh năm 1928);
3 (sinh năm 1975
(sinh năm 2011);
Tiền án:
05/10/1992, Công an T
“L
”
–
.
T
: không.
Nhân thân: Ng
, T
– (Điều 211).
B2
“L
”
135).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/8/2014. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Ngh: Luật sư Nguyễn Thanh L – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2/.
4, sinh ngày 27/8/1992 tại T
Minh; Thường trú: đường H5,
2,
1, Thành phố Hồ Chí Minh;
T1
B3, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 8/12;
: Không; Con ông
1 (sinh năm 1962) và bà (sinh năm 1967); Có c ng là
) và 01 con S1 (sinh năm 2010)
: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/5/2014 đến ngày 18/5/2014 được tại ngoại. (có mặt)
3/.
Đ1, sinh ngày
;
Ph, huyện B3, Thành phố Hồ Chí Minh;
: đường Ng, phường B4, quận B5, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 9/12;
: không; Con ông
(sinh năm 1946); và bà
1 (sinh năm 1950);
vợ con;
: không; Nhân thân:
B5
1
", đã chấp hành xong bản án, đã xóa án tích; Bị cáo tại ngoại. (bị cáo đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do)
(Trong vụ án còn có các bị cáo khác, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng cáo kháng nghị nên Tòa không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chen Yen H
2014, Chen Yen H
Lin Yi L2
3, th
, Chen Yen H
Lin Yi L2
Chen Yen H
: các đối tượng sử dụng thiết bị công nghệ cao, hiển thị số điện thoại của tổng đài Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) định tại thành phố Hồ Chí Minh, thông báo các bị hại đang còn nợ tiền cước viễn thông cố định. Đồ
, tự xưng là Công an thành phố Hà Nội, người này thông báo ngoài việc nợ cước điện thoại như trên, bị hại còn liên quan đến đường dây rửa tiền
, nhóm lừa đảo nhanh c
.
Chen Yen H
Lin Yi L2
Lin Yi L2
Lin Yi L2
, Chen Yen H
Lin Yi L2
Chen Yen H
. Khi Lin Yi L2
Chen Yen H
Lin Yi L2. Chen Yen H
.
30/3/2014
03/4/2014, Lin Yi L2
Chen Yen H
04/4/2014, Lin Yi L2
Liu Ming Ch người Đài Loan, Trung Quốc được Lin Yi L2 cử đến thay Lin Yi L2 nhận tiền từ các đối tượng lừa đảo.
, Chen Yen H
Ngh rủ Ngh
. Ngh
Chen Yen H
5/2014, Ngh giao cho Chen Yen H
:
+ 18 t
Ngh
Ngh
070040950931; Ngh
Thân Văn Đ2
060082109083, 06008211 0
060082111169; 060084285822 do
4
và thẻ ATM 060084285636 do
Minh D1 đứng tên. Riêng Nguyễn Văn B6
, số 1902802
.
ATM do Ngh
Nguyễn Văn B6
(do
8
, số
Techcombank, số
, số
:
: 060081582680, 060082417772, 060082417977, 060082418051;
2
: 0600 8170 8692, 0600 8171 0123, 0600 8171 0301, 0600 8170 9966; Hồ Ngô Giang Th1 đứng tên thẻ ATM số 0600 8197 2810; Võ B7 đứng tên thẻ ATM số 0600 845496423; Nguyễn Văn Nh2 đứng tên thẻ ATM số 0600 82541589; Trần Văn T2 đứng tên thẻ ATM số 060082549695; Ma Văn Th2 đứng tên thẻ ATM số 0600 8254 95447); Nhận của Lê Ngọc C1 06 thẻ ATM cũng mở tại hệ thống Ngân hàng Sacombank (gồm: 02 thẻ do Cao Trọng Đ3 đứng tên: số 060082262582 và 0600 8214 4600; 04 thẻ ATM do Trần Thanh L3 đứng tên gồm: thẻ số 060082144601, 0600 8214 4482, 060082144393, 060082144237).
Quá trình điều tra xác định, trong 42 thẻ ATM mà Cao Trung Ngh giao cho Chen Yen H có 25 thẻ phát sinh giao dịch nhận và chuyển tiền; 17 thẻ chưa giao dịch thì bị phát hiện.
Để rút được tiền của các bị hại ra khỏi tài khoản, Chen Yen H rủ Chung Minh Sh và Trần Thị Ngọc H4 cùng thực hiện. Mặc dù biết nguồn tiền là do nhóm lừa đảo tại Đài Loan thực hiện mà có, nhưng được Chen Yen H hứa chia hưởng 3% trên tổng số tiền rút được nên Chung Minh Sh và Trần Thị Ngọc H4 vẫn đồng ý tham gia. Từ ngày 27/3/2014 đến ngày 28/4/2014 Ching Ming Sh và H4 đã nhận của Chen Yen H 25 thẻ ATM đến các điểm ATM trong thành phố rút được 2.184.358.870đ.
02/2014,
2
2
T1
B3), C2
S2
1
C2
a Ph1, S2
Ph1, Ph1
S2 cho Ph1
). Theo Ph1
18/02/2014 S2
, S2
, S2
Ph1
, Ph1
Tr
S2. Tr đưa cho S2
S2
S2
).
2 Tr1
Tr1
, n
Tr1
6
Tr1 05/4/2014, Tr1
đường L4,
3
T
, Yang Ti A
–
ân dâ
cao Thanh pho H
; ho: Nguyen van hong”
Yang Ti A
Tr1
Tr1 200.000.000đ Yang Ti A
“B
Tr1
ang.
Với thủ đoạn như trên, từ ngày 27/3/2014 đến 28/4/2014, các đối tượng lừa đảo thực hiện lừa đảo chiếm đoạt của 22 người với tổng số tiền là 7.162.506.573đ. Trong đó có 200.000.000đ giao nhận trực tiếp giữa bị hại với đối tượng lừa đảo; 6.962.506.573đ nộp và luân chuyển qua 38 tài khoản trên nhiều hệ thống ngân hàng trong thành phố (do 21 người đứng tên đăng ký mở tài khoản), sau đó rút ra và chiếm đoạt là 5.328.374.658 (4.079.617.668đ tại 23 tài khoản bị hại chuyển vào, 1.248.756.990 tại 15 tài khoản qua hệ thống mạng chuyển đến). Còn lại 1.634.131.915đ chưa kịp rút ra thì bị Cơ quan điều tra phát hiện và phong tỏa ngăn chặn. Cụ thể:
Ngày 27/3/2014, Đỗ Thị Dung H5 ngụ tại đường H6, Phường Y3, Quận Z4
mbank gồm: Tài khoản 060081595359 do Đoàn Ngọc D3 đứng tên 50.000.000đ (đã bị rút ra chiếm đoạt 49.951.083đ) và tài khoản 060081710123 do Đoàn Ngọc D4 đứng tên 50.000.000đ (đã bị rút ra chiếm đoạt 49.897.333đ).
Ngày 28/3/2014, Phạm Thị Kim Ng1 ngụ tại đường Th3, Phường Y4, Quận Z5 nộp 25.000.000đ vào tài khoản số 0600.8094. 9424 mở tại Sacombank do Nguyễn Văn Ph2 đứng tên, số tiền này đã bị rút ra chiếm đoạt hết.
Ngày 31/3/2014, Lê Thị Ngọc L5 ngụ tại đường V, Phường Y5, Quận Z4 nộp 400.000.000; Đặng Thị Phương A1 ngụ tại đường Ng2, Phường Y6, quận B2 nộp 300.000.000 đồng vào tài khoản số 0600.80446.8132 mở tại Sacombank do Lê Thị Mỹ H6 đứng tên, trong đó có 149.765.322đ bị rút ra chiếm đoạt ngay tại tài khoản này. Số còn lại được luân chuyển đến 04 tài khoản khác cũng nằm trên hệ thống Sacombank gồm: 100.000.000đ vào tài khoản 0600.8094 9424 do Nguyễn Văn Ph2 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 99.184.278đ); 150.000.000đ vào tài khoản 0600 79991 1456 và 150.000.000đ vào tài khoản 060079902910 đều do Nguyễn Văn Đ1 đứng tên (đã bị rút hết cả 300.000.000đ). Còn 150.000.000đ chuyển vào tài khoản 0600 8014 6021 do Nguyễn Hoàng S2 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 145,075.212đ).
Ngày 31/3/2014, Lê Thị T3 ngụ tại đường Đ4, phường Đ5, Quận Z nộp 100.000.000đ vào tài khoản số 060081596037 mở tại Sacombank do Đoàn Ngọc D3 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 99.838.311đ).
Ngày 31/3/2014, Võ Thị H7 ngụ tại đường Ph2, KP3, Thị trấn C3, huyện C3 nộp 60.381.573đ vào tài khoản số 060081708692 mở tại Sacombank do Đoàn Ngọc D4 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 60.242.247đ).
01/4/2014,
4
đường X, Phường Y7,
6
0600 8014 6021 do
2
,
0600 8094 9424 do
3
.
Ngày 01/4/2014, Bùi Thị Lưu Đ6 ngụ tại đường Đ7
T4, Quận Z nộp 190.000.000đ vào 2 tài khoản mở tại Sacombank gồm 95.000.000 vào tài khoản số 060081972810 do Đoàn Ngọc D4 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 94.957.000đ) và 95.000.000đ vào tài khoản số 060081972810 do Hồ Ngô Giang Th1 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 49.808.050đ).
Ngày 01/4/2014, D5 ngụ tại đường Ng3, p
T4, Quận Z nộp 30.000.000đ vào tài khoản số 060008197 2810 mở tại Sacombank do Đoàn Ngọc D4 đứng tên, nhưng các đối tượng chưa kịp rút tiền thì bị phát hiện phong tỏa ngăn chặn.
Ngày 01/4/2014, Phạm Thị Như L6 ngụ tại đường Tr2, phường C4, Quận Z nộp 250.000.000đ vào 2 tài khoản tại Ngân hàng Sacombank gồm 150.000.000 vào tài khoản 0600 81364993 do Trần Ngọc H8 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 109.948.659đ) và 100.000.000đ vào tài khoản số 0600 81675141 do Trần Minh S3 đứng tên (đã bị rút ra chiếm đoạt 74.611.603đ).
Ngày 02/4/2014, Trịnh Thị Bích Th5 ngụ đường Ph4,
8 Ph5
8 Sacombank do Nguyễn Văn B6
.
03/4/2014,
Ng4,
9, Z5
2
; 150.000.
3
3 tên. To
.
Tr1
đường Đ8,
10
T
2
05/4/2014, Tr1
200.000.000đ cho Yang Ti A
.
04/4/2014,
1 ng
đường Ph6,
8 Ph5
0600 8226 2582 do
9
0600 8014 6021 do
2
.
05/4/2014,
3 ngụ tại đường Tr4,
11
B2
0000 111893 do
2
1471 0000 009440 do
3
.
07/4/20147,
6
đường V1,
11, Z4
1411 0000 111893 do
2
.
07/4/2014,
7
H9,
12, Z7
3
3
34.904.550đ.
08/4/2014,
3
V,
5, Z4 Thanh L3
060082549423 do
7
0600 8254 1589 do Ngu
2
3
3
Lê Thanh H9
1760 05399
S3
3
52.305.042đ).
08/4/2014,
8
đường B8,
9, T Thanh L3
Thân Văn Đ2
0600 82549695 do
2 149.865.000
0600 8254 9547 do Ma Văn Th2
149.946.000 60082549423 do
7
060082541589 do Nh2
.
08/4/2014,
1
đường Q,
2, quận G
Thân Văn Đ2
.
24/4/2014,
2
đường Ng5, Phường Y4,
5 Trung Ngh
115.007.091đ).
28/4/2014
4
đường L7,
12, Z4 Đăng Kh2
0600 8241 7772 Kh2
99.901.000đ.
, Chen Yen H
bị cáo Cao Trung Ngh
4 hai đ
. Chung Ming Sh
bị cáo
4
. Bị cáo Cao Trung Ngh
Chen Yen H
, Ngh
14.500.000đ Ngh
bị cáo Văn Đ1:
8,
1
người
31/3/2014,
8
400.000.000đ,
1 Sacombank do
6
060079911456 do bị cáo
1
172.650.000
;
127.350.000đ do
1
-
21/4/2014.
, bị cáo
1 khai 02/20
, Đ1
Ph1
Đ1
Ph1
13/02/2014, Đ1
C5
,
1
-
Ph9 –
Quận G
Đ1
L9
Ph1
Ph1
Ph1
Đ1
Đ1
Đ1
0937804057 - Ph1 0168525581 - Đ1
31/3/2014, thôn
, Đ1 nên Đ1
Đ1
. Đ1
21/4/2014 Đ1
-
–
.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 446/2016/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Cao Trung Ngh
4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo
1
.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc H4 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Trung Ngh 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2014.
Áp dụng khoản 4 Điều 250; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 05/01/2017, bị cáo Nguyễn Văn Đ1 kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 06/01/2017, bị cáo Trần Thị Ngọc H4 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 09/01/2017, bị cáo Cao Trung Ngh kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Trung Ngh thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo thừa nhận có hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Trần Thị Ngọc H4 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo còn cha mẹ già và con nhỏ không người phụng dưỡng, chăm sóc. Bị cáo Nguyễn Văn Đ1 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, tại đơn kháng cáo bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo với lý do bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả, hiện nay cha mẹ bị cáo đã lớn tuổi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Căn cứ các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Cao Trung Ngh, Trần Thị Ngọc H4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Nguyễn Văn Đ1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan. Bị cáo Cao Trung Ngh đã thay đổi nội dung kháng cáo từ kêu oan sang xin giảm nhẹ hình phạt. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Cao Trung Ngh, Trần Thị Ngọc H4 và kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Đ1 thì thấy mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử các bị cáo là có căn cứ, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra; các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo nhưng không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Ngh trình bày: Luật sư không tranh luận về tội danh nhưng cho rằng cấp sơ thẩm chưa cá thể hóa hành vi phạm tội của bị cáo Ngh, xem xét có sự phân công, bàn bạc hay không. Bị cáo Ngh có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bị cáo giúp sức cho cơ quan điều tra sớm bắt Chen Yen H, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đã cao tuổi, đang bị bệnh, con bị cáo chỉ mới 7 tuổi.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Trung Ngh thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã nêu, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo từ kêu oan sang xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và bị cáo Trần Thị Ngọc H4 tại phiên tòa phúc thẩm cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt, riêng bị cáo Nguyễn Văn Đ1 xin hưởng án treo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo có cơ sở xác định: Vào khoảng đầu năm 2014, Chen Yen H là người Đài Loan cùng với đối tượng tên Lin Yi L2 (đối tượng thuộc tổ chức lừa đảo ở Đài Loan – Trung Quốc) và các bị cáo khác tham gia vào đường dây lừa đảo người Việt Nam. Chen Yen H cùng các bị cáo đã sử dụng thiết bị công nghệ cao, sau khi nghiên cứu thông tin cá nhân, số tài khoản của các bị hại tại các ngân hàng, rồi dùng thủ đoạn gian dối, giả danh là Công an thành phố Hà Nội để hù dọa các bị hại có liên quan đến đường dây tội phạm rửa tiền hoặc tội phạm ma túy do Công an thành phố Hà Nội đang điều tra làm cho các bị hại tin là thật. Theo đó, các bị hại muốn chứng minh mình không liên quan đến đường dây tội phạm rửa tiền, tội phạm ma túy thì các bị hại phải chuyển tiền vào tài khoản mà bị cáo Chen Yen H và các bị cáo khác đã chỉ định. Sau khi các bị hại chuyển tiền, bị cáo Chen Yen H và các bị cáo khác với vai trò khác nhau đã rút số tiền này để chiếm đoạt.
Để thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tiền của bị hại thì bị cáo Chen Yen H đã liên hệ với bị cáo Cao Trung Ngh, rủ Ngh tham gia tổ chức lừa đảo trên, bị cáo Ngh đồng ý với nhiêm vụ tìm người đăng ký mở thẻ ATM và được Chen Yen H mua lại với giá 1.500.000 đồng/thẻ. Thực hiện hành vi giúp sức cho Chen Yen H, từ tháng 3/2014 đến tháng 5/2014 bị cáo Cao Trung Ngh đã giao cho Chen Yen H 42 thẻ ATM gồm 18 thẻ do Ngh đứng tên hoặc hướng dẫn đứng tên, 24 thẻ do bị cáo Ngh nhận qua người khác. Trong 42 thẻ ATM có 25 thẻ phát sinh giao dịch nhận chuyển tiền và còn 17 thẻ chưa giao dịch thì bị phát hiện.
Theo phân công, để rút tiền của bị hại ra khỏi tài khoản, bị cáo Chen Yen H đã rủ bị cáo Trần Thị Ngọc H4 và các bị cáo khác cùng thực hiện. Bị cáo Trần Thị Ngọc H4 và các bị cáo khác đã đồng ý tham gia, nhận của Chen Yen H 25 thẻ ATM, rút số tiền 2.184.358.870 đồng của các bị hại đã chuyển vào.
Tương tự với thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi như nêu trên bị cáo Nguyễn Hoàng S2 đã nhận làm thẻ ATM rồi giao lại cho nhóm các đối tượng lừa đảo để nhóm lừa đảo sử dụng chuyển và rút số tiền 1.850.000.000 của 07 người bị hại.
Với các thủ đoạn, hành vi gian dối như trên từ 27/3/2014 đến 28/4/2014, các bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của 22 người bị hại với số tiền 7.162.506.573 đồng.
Riêng đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1, khoảng đầu tháng 02/2014 bị cáo Điều đọc báo Mua Bán có mục cho vay tiền và tín chấp. Do cần tiền để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân, bị cáo Đ1 đã dùng giấy chứng minh nhân dân để mở các tài khoản thẻ ATM rồi dùng các tài khoản thẻ ATM này để thế chấp vay tiền của đối tượng tên Ph1. Quá trình mở tài thẻ ATM, bị cáo Đ1 có đăng ký số điện thoại để ngân hàng báo thông tin tài khoản thẻ ATM qua số điện thoại cho Đ1. Từ đó, bị cáo Đ1 biết việc có giao dịch chuyển và rút tiền từ các thẻ ATM mà Đ1 đã thế chấp cho đối tượng tên Ph1. Biết được các thẻ ATM của mình bị nhóm lừa đảo sử dụng để chiếm đoạt tiền của người khác và biết trong thẻ ATM có tiền chuyển vào, bị cáo Đ1 đã đến ngân hàng làm thủ tục rút số tiền 127.350.000 đồng mang về sử dụng cá nhân.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Cao Trung Ngh, Trần Thị Ngọc H4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo Nguyễn Văn Đ1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Cao Trung Ngh và Trần Thị Ngọc H4: Các bị cáo đã giúp sức tích cực cho nhóm tội phạm lừa đảo ở Đài Loan – Trung Quốc chiếm đoạt tài sản đặc biệt lớn của người Việt Nam, giả danh là cán bộ cơ quan công quyền gây mất trật tự an ninh địa phương, gây hoang mang dư luận cho xã hội. Mặt khác, hiện nay nhóm tội phạm sử dụng công nghệ cao để lừa đảo ngày càng gia tăng, hoạt động rộng rãi trên địa bàn cả nước. Do đó, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò tham gia của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Ngh mức án 06 năm tù, H4 12 năm tù là có căn cứ, không nặng. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngh và H4 là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 kháng cáo xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo biết rõ tài khoản ATM của bị cáo bị sử dụng vào việc bất hợp pháp nhưng bị cáo không báo đến ngân hàng để ngăn chặn giao dịch mà còn lợi dụng vào đó rút số tiền 127.350.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Mặc dù, số tiền 127.350.000 đồng đã được bị cáo nộp lại, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo ăn ăn hối cải, bị cáo có nơi cư trú ổn định, địa chỉ rõ ràng; tuy nhiên, về nhân thân vào năm 2007 bị cáo bị xử về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; nên đối chiếu với quy định tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo Đ1 không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.
Do không được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Cao Trung Ngh, Trần Thị Ngọc H4, Nguyễn Văn Đ1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 446/2016/HS-ST ngày 28/12/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên bố các bị cáo Cao Trung Ngh
4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo
1
.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc H4 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Trung Ngh 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2014.
Áp dụng khoản 4 Điều 250; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Cao Trung Ngh, Trần Thị Ngọc H4, Nguyễn Văn Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1); - VKSND Tp. Hồ Chí Minh (1); - Cục THADS Tp. Hồ Chí Minh (1); - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh (1); - Công an Tp. Hồ Chí Minh (1); - Trại tạm giam Công an Tp. Hồ Chí Minh (2); - BCTN (2); - Lưu (5).16b. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Mười |