- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Trần Kim T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 453/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23/5/2023 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Rỹ;
2. Ông Lý Ngọc Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 (địa chỉ: Số A đường L, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Kim T, sinh năm 1982
Địa chỉ: Số A Đường số D, KDC B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt, có yêu cầu vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nhựt M, sinh năm 1983
Địa chỉ: Số A Đường số D, KDC B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: Số B- B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1985. Là đại diện theo ủy quyền theo các Văn bản ủy quyền ngày 26/12/2022 và ngày 01/02/2023. (vắng mặt, có yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/12/2022, Bản tự khai ngày 28/02/2023 và tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn là bà Trần Kim T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn Nhựt M tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01/2005, ngày 11/3/2023. Đến năm 2008, bà và ông M bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Do được gia đình hai bên hòa giải, bà cố gắng nhẫn nhịn để tiếp tục chung sống với ông M. Tuy nhiên, ông M vẫn không thay đổi tính tình, nhiều lần đe dọa, đánh đập, xúc phạm bà. Tháng 8 năm 2022, cha đẻ của bà chết, bà chỉ được về lo ma chay và cúng kiến cho cha 02 lần, sau đó thì ông M ngăn cấm không cho bà về quê cúng cha nữa. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có khả năng hàn gắn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M để ổn định cuộc sống. Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn hiện do ông M giữ nên bà không nộp cho Tòa án được.
- Về con chung: Bà và ông M có 02 con chung là trẻ Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 26/6/2005, giới tính: Nữ và trẻ Nguyễn Thành H, sinh ngày 04/8/2009, giới tính: Nam. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu giao cho bà trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Huỳnh N và trẻ Nguyễn Thành H. Bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà và ông M có vay của Ngân hàng TMCP S khoản tiền là 4.000.000.000đồng (bốn tỷ đồng) theo Hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx ngày 19/01/2022. Bà vẫn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như thỏa thuận trong hợp đồng và sẽ trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng đối với phần nợ còn lại.
- Về nghĩa vụ dân sự chung khác: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà tự nguyện chịu toàn bộ.
Tại Đơn trình bày ý kiến ngày 14/02/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP S có người đại diện hợp pháp là Nguyễn Thị Thanh T1 trình bày:
Bà Trần Kim T và ông Nguyễn Văn Nhựt M có vay vốn là 4.000.000.000đồng (bốn tỷ đồng) tại Ngân hàng TMCP S theo Hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx ngày 19/01/2022. Tính đến ngày 14/02/2023 thì dư nợ còn lại của bà T và ông M theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng).
Hiện khoản vay chưa đến ngày đáo hạn, khách hàng vẫn đang thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và cam kết tiếp tục trả nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, Ngân hàng TMCP S không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ vay nêu trên của bà T và ông M trong vụ án này. Trường hợp phát sinh yêu cầu giải quyết khoản nợ vay nêu trên của bà T và ông M, Ngân hàng TMCP S sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn Nhựt M được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông M vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là bà Trần Kim T vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn Nhựt M được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông M vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Trần Kim T và ông Nguyễn Văn Nhựt M là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn là bà Trần Kim T và đại diện hợp pháp của bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T1 vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn Nhựt M được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông M vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01/2005, ngày 11/3/2005 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Kim T và ông Nguyễn Văn Nhựt M là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, bà Trần Kim T trình bày quá trình chung sống thì đến năm 2008, bà và ông M bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Do được gia đình hai bên hòa giải, bà cố gắng hàn gắn để tiếp tục chung sống với ông M nhưng không được. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có khả năng hàn gắn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M để ổn định cuộc sống.
Xét ông Nguyễn Văn Nhựt M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên phải chịu hậu quả của việc không tuân thủ nghĩa vụ có mặt theo sự triệu tập của Tòa án theo quy định tại khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét cuộc sống chung không đem lại hạnh phúc cho bà T, mục đích hôn nhân không đạt được, ông M không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hòa giải thể hiện ông M không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của ông và bà T. Vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó với nhau. Việc ly hôn là cần thiết để cả hai ổn định cuộc sống riêng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là bà Trần Kim T để các đương sự ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Xét thấy bà Trần Kim T và ông Nguyễn Văn Nhựt M có có 02 con chung là trẻ Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 26/6/2005, giới tính: Nữ và trẻ Nguyễn Thành H, sinh ngày 04/8/2009, giới tính: Nam. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu giao cho bà trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Huỳnh N và trẻ Nguyễn Thành H, bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Ông M không có mặt để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, sau khi ly hôn giao cho bà T trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Huỳnh N và trẻ Nguyễn Thành H. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Trần Kim T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn Nhựt M không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về nợ chung: Bà Trần Kim T và Ngân hàng TMCP S đều xác nhận bà Trần Kim T và ông Nguyễn Văn Nhựt M có vay vốn là 4.000.000.000đồng (bốn tỷ đồng) tại Ngân hàng TMCP S theo Hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx ngày 19/01/2022, tính đến ngày 14/02/2023 thì dư nợ còn lại của bà T và ông M theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng). Bà T đồng ý trả nợ nếu Ngân hàng TMCP S có yêu cầu, tuy nhiên, Ngân hàng TMCP S xác nhận không yêu cầu không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ vay nêu trên của bà T và ông M trong vụ án này. Trường hợp phát sinh yêu cầu giải quyết khoản nợ vay nêu trên của bà T và ông M, Ngân hàng TMCP S sẽ khởi kiện trong vụ án khác. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn Nhựt M không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với khoản nợ chung nêu trên, trường hợp có tranh chấp về tài sản chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về nghĩa vụ dân sự chung khác: Bà Trần Kim T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Văn Nhựt M không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 200, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Trần Kim T.
- Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nhựt M.
- Về con chung: Giao cho bà Trần Kim T trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 26/6/2005, giới tính: Nữ và trẻ Nguyễn Thành H, sinh ngày 04/8/2009, giới tính: Nam. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Kim T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn Nhựt M cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về tài sản chung: Bà Trần Kim T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Văn Nhựt M không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về nợ chung: Bà Trần Kim T và Ngân hàng TMCP S đều khai bà Trần Kim T và ông Nguyễn Văn Nhựt M có vay vốn là 4.000.000.000đồng (bốn tỷ đồng) tại Ngân hàng TMCP S theo Hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx ngày 19/01/2022, tính đến ngày 14/02/2023 thì dư nợ còn lại của bà T và ông M theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng). Bà Trần Kim T và Ngân hàng TMCP S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết khoản nợ vay nêu trên trong vụ án này. Ông Nguyễn Văn Nhựt M không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Trường hợp phát sinh yêu cầu giải quyết khoản nợ vay nêu trên sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
- Về nghĩa vụ dân sự chung khác: Bà Trần Kim T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Văn Nhựt M không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến và không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
2. Về án phí: Bà Trần Kim T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2021/0017951 ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà Trần Kim T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Kim T, ông Nguyễn Văn Nhựt M và Ngân hàng TMCP S có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ cho đương sự.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THA dân sự Quận 8; - UBND xã H, huyện V, tỉnh V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Yến |