vanban.org

Bản án 452/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 23/09/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 452/2024/HS-PT
Ngày: 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công

Các Thẩm phán:

Ông Phùng Anh Dũng

Ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Ngọc Gia Linh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên toà xét xử côngkhaitheothủtụcphúcthẩmvụánhìnhsự thụlý số396/2024/TLPT-HSngày29tháng7năm 2024, đối với bị cáo Phan Hữu L, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm về tội “Tàngtrữhàngcấm”, docókhángcáocủabịcáođốivớiBảnánhìnhsự sơthẩmsố61/2024/HS-STngày12/6/2024. -Bị cáocókháng cáo: PhanHữuL,sinhngày15tháng7năm1967,tạitỉnhThừaThiênHuế;nơiđăng kýhộkhẩuthường trú và chỗ ở hiện nay: nhà số A đường N, tổ dân phố A, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Hữu N (chết) và bà Phạm Thị N1; có vợ là Lê Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến ngày 06/02/2024 đượcthaythếbiệnpháptạmgiambằng biệnphápbảolĩnh; cómặt tạiphiêntòa.

NỘIDUNGVỤÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 06 giờ 25 phút, ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại nhà số A đường N, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Phan Hữu L đang vận chuyển 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ từ nhà số F L, thịtrấnL,huyệnP,tỉnhThừaThiênHuế đếnthìbị Cơquan Cảnh sátđiềutra CôngantỉnhT phát hiện bắtquảtang. Tiếnhànhkiểmtranơiở củaLtạinhàsốAđườngN,thịtrấnL, huyệnP,tỉnh ThừaThiênHuế,L đãgiaonộp10.000baothuốcláđiếucácloạidonướcngoàisảnxuất,khôngcóhóađơn,chứngtừ chứng minhnguồn gốcxuất xứ màLđangcấtgiấu trongnhà. Theokhai báo củaPhan Hữu L,cơ quan điều tratiếptục khámxétkhẩncấp tại nhà sốFđườngL, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thu giữ thêm 2.000 bao thuốc lá điếu các loại do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ do Phan Hữu L giao nộp. Quátrìnhđiềutra,PhanHữuLkhainhận: khoảngtháng4năm2023,Lquenmột ngườitênXquê ở Quảng Trị (không xác minh được nhân thân, lai lịch và địa chỉ cư trú) tại bãi biển L, người này đề nghị L nhận cất giữ thuốc lá điếu nhập lậu cho các chủ hàng ở Quảng Trị chuyển vào để vận chuyển đi nơi khác, tiền công cất giấu là 1.000 đồng/hộp (10 gói), L đồng ý. Hàng ngày, thuốc lá điếu nhập lậu được các chủ hàng (L nghe nói tên là H1 và T, không biết nhân thân, lai lịch và địa chỉcư trúcủanhữngngườinày)đựng trongthùnggiấygửiquaxetải,xekháchvàxebusđếnnhà củaL tạiFL, thị trấnL,huyệnP, sauđó LdùngxemôtôBKS75K4-3740chởthuốc láđiếunhập lậu này đến nhà số A đường N, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cất giấu cho đến khi có người đến nhận và trả tiền công. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2023 đến ngày bị phát hiện bắtquảtang, PhanHữu Lđã nhiều lần nhận cất giấu thuốc lá điếu nhậplậu donướcngoàisản xuất có nhiều nhãn hiệu khác nhau, không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, mỗi lần L nhận từ 500 bao (50 hộp) đến 1.000 bao (100 hộp). Do nhiều lần nhận cất giấu và thời giandàinênLkhôngnhớđượccụthểsốthuốclánhậplậumàmìnhnhậncấtgiấuvàsốtiềnthulợi đượclàbaonhiêu,chỉước lượngthulợikhoảng18.000.000đồngvàđãtự nguyệngiaonộpsốtiền này chocơquanđiềutra. TạiBảnánhìnhsựsơ thẩmsố61/2024/HS-STngày12/6/2024,TòaánnhândântỉnhThừaThiên Huếquyếtđịnh: 1.Vềtộidanh:Tuyênbố bịcáoPhanHữuLphạmtội“Tàngtrữhàngcấm”. 2. Vềhình phạt:Áp dụngđiểmb khoản 3,khoản4Điều191;cácđiểm s,tkhoản1Điều51, khoản 1Điều54củaBộluậtHìnhsự. Xử phạtbịcáo PhanHữuL03 (ba)năm tù.Thờihạnchấp hànhhình phạttùtínhtừ ngàybắtgiam thihành án, đượctrừ thờigian tạmgiamtừ ngày23/10/2023đếnngày06/02/2024. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, án phí và thông báo quyền kháng cáotheoquyđịnhphápluật. Saukhixétxử sơthẩm: Ngày 18/6/2024, bị cáo Phan Hữu L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là quá nghiêm khắc; bởi lẽ, trong quá trình giải quyết vụánbịcáo luônthànhkhẩnkhaibáo,ănnănhốicải, bản thân khôngcó tiềnán,tiền sự;ngay sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và toàn bộ tiền hình phạt bổ sung. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính 18.000.000 đồng, mặc dù Tòa án cấpsơthẩmkhôngbuộcbịcáophảinộp. Tạiphiêntòaphúc thẩm:

- BịcáoPhan HữuLgiữ nguyênnộidungkháng cáo;

- Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểmakhoản 1Điều355, Điều356củaBộluậtTố tụnghìnhsự,không chấpnhậnkhángcáo của bịcáovàgiữ nguyênbản ánsơthẩm.

NHẬNĐỊNHCỦATÒAÁN:

Trêncơ sở nộidungvụán,căncứvàocáctàiliệucó tronghồsơ đãđượctranhtụngtạiphiêntòa, Hộiđồngxétxửnhậnđịnhnhưsau: [1].Vềthủtụctốtụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/6/2024, bị cáo Phan Hữu L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đềnghịTòaáncấpphúcthẩmxemxétgiảmnhẹhìnhphạtvàchobịcáođượchưởngántreo.Đơn kháng cáo của bị cáo là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nênđượcxemxéttheothủtụcphúcthẩm. [2].Xétnộidungkháng cáo: [2.1].Vềtộidanhvà điềukhoảnluậtápdụng: Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại số nhà A đường N, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế và số nhà F L, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Phan Hữu L có hành vi cất giấu cho người khác13.000(mườibanghìn)baothuốcláđiếucácloạidonướcngoàisảnxuất,khôngcóhóađơn, chứngtừ chứng minhnguồngốcxuấtxứ nhằmmục đíchnhậntiềncông. Dođó,Tòaán cấp sơthẩm kết án PhanHữuLvềtội“Tàng trữhàng cấm”với tìnhtiếttăng nặng định khung hình phạt“Thuốclá điếu nhậplậu 4.500 baotrở lên”quy địnhtạiđiểm bkhoản3 Điều 191củaBộluật Hìnhsự là cócăn cứ, đúngngười,đúngtộivàđúngphápluật. [2.2].Xéttínhchất,mứcđộhànhviphạmtội,cáctìnhtiếttăngnặng,giảmnhẹtráchnhiệmhìnhsự vàhìnhphạt: Xét hànhvi phạmtội củabị cáolà rấtnghiêm trọng, bị cáo nhậnthứcđượcpháp luậtnghiêm cấm hành vitàng trữ hàngcấm dướimọihình thứcnhưngvìvụ lợibị cáo đãtàngtrữ 13.000baothuốc lá điếu các loại do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, xâmphạm trậttự quảnlý kinhtế.Vìvậy, cầncómứchìnhphạtđủ nghiêmkhắccách ly bịcáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo được sự răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáotrởthànhcôngdâncóích choxãhộivà công tácphòngngừa chung. Tuynhiên,saukhiphạmtội,bịcáođãthànhkhẩnkhai báo,ănnănhốicảivềhànhvi phạmtộicủa mình; tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án nên được hưởng các tìnhtiếtgiảmnhẹ“Thànhkhẩnkhaibáo”,“Ngườiphạmtộitíchcựcgiúpđỡ cáccơ quancótrách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm”quy định tại các điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũngnhư các tình tiếtgiảmnhẹ,Tòa án cấp sơ thẩmápdụng khoản 1 Điều 54 củaBộluậtHình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, là tương xứng với tính chất, mứcđộ,hậuquảcủahành viphạm tội. Saukhixétxử sơ thẩm,bịcáođãchủ độngnộpánphíhìnhsự sơthẩm,mộtphầntiềnphạtbổsung 2.000.000 đồng; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự, chỉ vì hoàn cảnh khó khăn muốn có thêm thu nhập nên phạm tội và tỏ ra vôcùngănnăn,hốicải;bịcáoxuấttrìnhthêmbiênlaiđãchấphànhxonghìnhphạtbổsungsốtiền 20.000.000 đồng theo quyết định của án sơ thẩm, thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành phán quyết của Tòa án. Ngoài ra, bị cáo cũng tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 18.000.000 đồng dù Tòa án cấp sơ thẩm không buộc bị cáo phải nộp. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hìnhsự mớitạikhoản2Điều 51củaBộluậtHìnhsự.Dođó,Hộiđồngxétxử chấpnhậnmộtphần kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồngtrở thành côngdâncóích choxã hội. Việcgiảm chobịcáomột phầnhìnhphạttrongtrường hợpcụthể này vừa thể hiệnsự nhân đạo, khoan hồngcủa pháp luật đối với ngườiphạm tội thậtsự biết ănnăn,hốicảinhưng vẫnđảmbảotínhnghiêmminh củapháp luật. [3].Vềbiệnpháptư pháp: Quá trình điều tra xác định, bị cáo Phan Hữu L thu lợi 18.000.000 đồng là tiền công cất giữ thuốc láchocácđốitượngT,H1.Hộiđồngxétxử thấyrằng,sốtiền18.000.000đồnglàtiềnbịcáoLthu lợi bất chính từ hành vi phạm tội nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự vàđiểmb khoản2 Điều106 củaBộ luậtTố tụng hình sự,cầnphảitịch thusungvàongânsách Nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định số tiền nêu trên không trực tiếp liên quan đến tội phạm và tuyên trả cho bị cáo L là chưa phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, nội dung này không có kháng cáo, không bị kháng nghị. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L tự nguyện xin nộp lại toàn bộ số tiền này xung vào ngân sách Nhà nước vì thực tế bị cáo đã nộp từ trước khi xét xử sơ thẩm. XétnguyệnvọngcủabịcáohoàntoànphùhợpquyđịnhphápluậtnênHộiđồngxétxử phúcthẩm ghinhậnsự tự nguyệnnày,sửabảnánsơthẩmsungquỹNhànướcđốivớikhoảntiền18.000.000 đồngnêutrên. [4].Vềánphíhìnhsự phúcthẩm: Do kháng cáođược chấpnhậnnên bịcáo PhanHữuL khôngphảichịuánphíhình sự phúcthẩm (theoquy địnhtại điểmhkhoản2Điều23Nghị quyếtsố 326/2016/UBTVQH14ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ánphívàlệphíTòaán). [5]. Các quyết địnhkháccủa bảnánsơthẩm không cókhángcáo,khôngbị khángnghị,Hội đồng xét xử phúc thẩmkhôngxét. Vìcáclẽ trên;

QUYẾTĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhậnmộtphầnkhángcáo củabịcáoPhanHữuL,sửaBảnánhìnhsự sơthẩmsố61/2024/HS-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế về phần hình phạt đối với bị cáo Phan HữuL vàphầnxử lývật chứng. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của BộluậtHìnhsự. Xử phạtbịcáoPhanHữuL02(hai)nămtùvềtội“Tàngtrữhàngcấm”.Thờihạnchấphànhhình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 23/10/2023 đếnngày06/02/2024. 2.Vềxử lývậtchứng: căn cứ Điều47 Bộ luậtHìnhsự;Điều106củaBộluậtTốtụnghìnhsự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 18.000.000 đồng (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 11/6/2024 giữa Cơquan Cảnhsát điềutra CôngantỉnhTvàCụcThihànhándânsự tỉnhThừaThiênHuế). 3. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườngvụ Quốc hộivề mứcthu, miễn, giảm,thu,nộp, quản lývàsử dụng án phí và lệ phíTòaán; Bị cáo PhanHữuL khôngphảinộp án phíhìnhsự phúcthẩm. 4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lựcphápluật kểtừ ngàyhếtthờihạnkhángcáo, khángnghị.

Bảnánhìnhsự phúcthẩm cóhiệulựcphápluậtkểtừ ngàytuyên án./.

Cỡ chữ