- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hương - Trung"
- Tòa quyết gì? Xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn phï ninh tØnh phó thä | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 45/2019/ HNG§ -ST Ngµy: 15/11/2019. V/v: Ly h«n, tranh chÊp nu«i con khi ly h«n. Nh©n danh Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn Phï Ninh - Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã: ThÈm ph¸n- Chñ täa phiªn tßa: Bµ T¹ ThÞ Hång Ng©n. C¸c Héi thÈm nh©n d©n: 1. Bµ Bïi ThÞ Kim HiÒn; huyÖn Phï Ninh. Duy Hưng - KiÓm s¸t viªn tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2019/TLST - HNGĐ ngày 16/7/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXX - ST ngày 14/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2019/QĐST - DS giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H - Sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu 4, xã TQ, huyê ̣n PN, tỉnh PT. Nơi ở hiện nay: Khu 10, xã PM, huyện PN, tỉnh PT. Hôm nay, có mặt. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T - sinh năm 1976 Địa chỉ: Khu 4, xã TQ, huyện PN, tỉnh PT. Hôm nay, vắng mặt. |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai tiếp theo chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày: Chị và anh Nguyễn Ngọc T tự nguyê ̣n tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ta ̣i UBND xa TQ năm 2008. Sau kết hôn vợ chồng chung sống cùng giã đình anh T được 4 năm thì ra ở riêng. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâ u thuẫn. Nguyên nhân do anh T chơi bờ i không tu chi làm ăn . Chị có khuyên can nhưng anh T không thay đổi mà còn
́ đánh đập chị. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là:
- Nguyễn Thị Kim Q sinh ngày 05/8/2001
- Nguyễn Anh P sinh ngày 24/10/2008
- Nguyễn Anh M sinh ngày 16/8/2016
Khi ly hôn chị xin được nuôi cháu Q và cháu M, giao cho anh T nuôi cháu P. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, công sức: Không có.
* Về phía anh Nguyễn Ngọc T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần có Giấy triệu tập anh T đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng anh T đều cố tình trốn tránh, không có mặt tại Tòa án nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Nguyễn Thị Thanh H xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T và đề nghị tòa án giải quyết về con chung khi ly hôn. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 điều 35 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TQ, huyện PN, tỉnh PTphù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị H trình bày, vợ chồng mâu thuẫn là do anh T chơi bờ i không tu chi làm ăn, không quan tâm đến
́ vợ con. Chị có khuyên can nhưng anh T không thay đổi mà còn đánh đập chị. Hiê ̣n anh chi ̣ đa sỗ ́ng ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau. Về phia anh T
́ mă ̣c dù đa đượ̃
c tòa án thông báo về viê ̣c thu ̣ lý vu ̣ án và đa gữ ̉ i cá c văn bản tố tụng cho anh T để anh T thực hiê ̣n quyền và nghia vu ̣̃
tố tụng của mình nhưng anh T không có mă ̣t. Theo biên bản xác minh ngày 26/7/2019 tại Ban Công an xã TQ, huyện PN, tỉnh PT thì hiện nay anh T đang có hộ khẩu thường trú tại xã TQ và hiện vẫn đang làm ăn sinh sống tại địa phương. Tại Biên bản làm việc ngày 26/7/2019 với UBND xã TQ cũng được cung cấp : Thời gian vừa qua UBND xa TQ có biết được việc chị H xin ly hôn anh T và có nhận được các văñ bản tố tụ ng của Tòa án gử i cho anh T để triệu tập anh T đến tòa án nhân dân huyê ̣n Phù Ninh giải quyết vu ̣ á n ly hôn giữa chi ̣ H và anh T, sau khi nhận được các văn bản tố tụng đó, UBND xa TQ đã
cữ ̉ cán bộ đến tận nhà giao cho anh T nhưng không tiến hành giao văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T được. Do không giao được các văn bản tố tụng cho anh T nên ngày 26/7/2019 TAND huyện Phù Ninh đã đến nhà anh T để làm việc nhưng anh T không có nhà. Đại diện khu dân cư cho biết: Hàng ngày anh T đều đi làm từ sáng và đến tối mới có mặt tại nhà. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng của Tòa án theo đúng quy định của pháp luật tại nơi cư trú của anh T. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay anh T vẫn không có mặt. Như vậy, anh T mặc nhiên từ chối quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Để đảm bảo quyền lợi của chị H và cũng phù hợp với quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục vắng mặt anh Tr theo quy định tại điều 228 BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn vớ i anh T vì tình cảm vợ chồng không còn . Như vậy có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên xử cho chị H được ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị H xác nhận là vợ chồng có 03 con chung là
- Nguyễn Thị Kim Q, sinh ngày 05/8/2001
- Nguyễn Anh Ph, sinh ngày24/10/2008
- Nguyễn Anh M, sinh ngày 16/8/2016
Quá trình giải quyết vụ án chị H chị xin được nuôi cháu Q và cháu M, giao cho anh T nuôi cháu P. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay do anh Tg vắng mặt nên chị H xin được nuôi cả ba cháu và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Xét thấy nguyện vọng xin được nuôi con của chị H là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với pháp luật. Hơn nữa tại phiên tòa hôm nay anh T không có mặt nên nếu giao cháu P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng thì sẽ không đảm bảo được quyền lợi của cháu. Do đó, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H là phù hợp.
Về tài sản chung: Trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị H không đề nghị giải quyết về tài sản chung. Nếu sau này anh T đề nghị giải quyết về tài sản chung và có căn cứ thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung, công sức: Không có nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có quan điểm: Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, HĐXX, Thư ký tòa án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đườ ng lối giải quyết vu ̣ án : Đại diện VKS đề nghị Tòa án xử cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn vớ i anh Nguyễn Ngọc T và giao ch áu Nguyễn Thị Kim Q, cháu Nguyễn Anh P, cháu Nguyễn Anh M cho chi ̣ H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung và công sức: Không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82 luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147, điều 228, điều 238, điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T.
Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung: Nguyễn Thị Kim Q, sinh ngày 05/8/2001; Nguyễn Anh P, sinh ngày 24/10/2008 và cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 16/8/2016.
Anh Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị Thanh Hương.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc chăm sóc, giáo dục con chung không bên nào được ngăn cấm.
Về tài sản chung: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung và công sức: Không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2017/0001211 ngày 16/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị Hương đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đương sự có mặt được quyền kháng cáo.
Anh Nguyễn Ngọc T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
N¬i nhËn:
| - TAND tØnh; - VKS ND huyÖn, tØnh; - T.H.A DS huyện Phù Ninh; - C¸c ® ¬ng sù; - UBND x· TQ; - L u: HS , VP. | tM. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- chñ täa phiªn tßa T¹ ThÞ Hång Ng©n |