- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Quang L. Anh Trần Quang L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Minh T, sinh ngày 25/6/2013, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 45/2021/HNGĐ-ST Ngày 22 tháng 9 năm 2021 V/v: “Tranhchấp thay đổi ngườitrực tiếp nuôi con sau khily hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Đức
Ông Triệu Hồng Hà
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà :Bà LạiPhương Thúy
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2021/TLST- HNGĐ, ngày tháng năm 2021 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2021; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Quang L, sinh năm 1970 (có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1980 (có mặt)
Đều cư trú: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 7 năm 2021 và quá trình giải quyết nguyên đơn anh Trần Quang Long trình bày:
Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Hồng L năm 2012. Quá trình vợ chồng chung sống mâu thuẫn năm 2020 chị L làm đơn đến Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch tại bản án của Tòa án xử cho chị L và anh được ly hôn. Về con chung giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng hai con Trần Minh T, sinh ngày 25/6/2013, Trần Cát T, sinh ngày 30/10/2015, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Sau khi vợ chồng ly hôn anh vẫn chăm sóc các con bình thường như lúc còn ở chung. Nay chị L không có công ăn việc làm, chơi bời, nợ nần, cặp bồ, ảnh hưởng đến các cháu và không có khả năng nuôi con. Quá trình giải quyết anh đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn để anh được nuôi hai con, tại phiên tòa anh xin được nuôi cháu T để chị L nuôi cháu T. Hiện anh đi làm ở Công ty vận tải ô tô Vĩnh Phúc thu nhập bình quân 6.000.000đ/ tháng.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng L trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Quang L năm 2012. Quá trình vợ chồng chung sống mâu thuẫn năm 2020 chị làm đơn đến Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch tại bản án của Tòa án xử cho chị và anh L được ly hôn. Về con chung giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng hai con Trần Minh T, sinh ngày 25/6/2013, Trần Cát T, sinh ngày 30/10/2015, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Sau khi vợ chồng ly hôn anh L vẫn thường xuyên thăm hỏi và mua quà cho các con. Quá trình chị nuôi con vẫn ổn định và đảm bảo. Nay anh L làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn chị không đồng ý. Hiện chị làm ruộng và bán hàng online trên mạng thu nhập không ổn định, có tháng 4.000.000đ-5.000.000đ có tháng 7.000.000đ-8.000.000đ đủ đảm bảo nuôi con.
Qua xác minh tại UBND xã Bắc Bình: Anh L và chị L kết hôn năm 2012 đăng ký kết hôn tại UBND xã Bắc Bình. Quá trình anh chị chung sống phát sinh mâu thuẫn vì vậy đến năm 2020 anh chị được Tòa án giải quyết cho ly hôn. Về con chung giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng hai con Trần Minh T, sinh ngày 25/6/2013, Trần Cát T, sinh ngày 30/10/2015, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Sau khi ly hôn chị L ra ngoài thuê nhà ở trọ cùng hai con chung. Chị L có tài sản riêng là thửa đất do mẹ nuôi là bà Đoàn Thị L cho trước khi cưới, anh L và chị L xây nhà trên thửa đất đó. Hiện nay chỉ có một mình anh L sinh sống trên nhà và đất này tại thôn B, xã B. Hiện tại địa phương không biết anh L làm nghề gì và thu nhập như thế nào. Anh L là người quê ở Thái Bình, không có anh em họ hàng ở đây. Anh L không có tài sản nhà đất nào khác. Chị L hiện nay làm ruộng và bán hàng online thu nhập cụ thể địa phương không nắm được. Chị L có tài sản là thửa đất hiện nay anh L đang ở nhưng đã bán cho người khác, ngoài ra không có tài sản gì khác. Hiện tại bản thân chị L nuôi cả hai con là khó khăn, thu nhập bình quân của người lao động tại địa phương khoảng 4.800.000đ đến 5.000.000đ/ 01 tháng /01 người. Chi phí sinh hoạt của một người trưởng thành tại địa phương khoảng 3.500.000đ/01 người/01 tháng. Chi phí sinh hoạt của một trẻ em từ 6 tuổi đến 8 tuổi tại địa phương bình quân 2.300.000đ/01 trẻ/ tháng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với cháu T.
2.Về án phí anh L phải chịu theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trần Quang L làm đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Hồng L về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Anh L và chị L đều cư trú tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
.Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quá trình giải quyết anh L xin thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với hai con Trần Minh T và Trần Cát T. Tại phiên tòa anh xin được nuôi cháu T, để chị L nuôi cháu T. Xác định đây là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại bản án số 28/2020/HNGĐ-ST ngày 14/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, xử cho chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Trần Quang L được ly hôn. Về con chung chị Nguyễn Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng hai con Trần Minh T, sinh ngày 25/6/2013, Trần Cát T, sinh ngày 30/10/2015, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L. Sau khi ly hôn, anh L có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
Theo anh L hiện nay chị L không có công ăn việc làm, chơi bời, nợ nần, cặp bồ. Để ảnh hưởng đến các con và không có đủ khả năng nuôi con. Quá trình giải quyết anh L đề nghị Tòa án nhân dân huyện lập Thạch cho anh nuôi hai con. Tại phiên tòa anh xin được nuôi cháu T. Hiện anh đi làm ở Công ty vận tải ô tô Vĩnh Phúc thu nhập bình quân 6.000.000đ/ tháng đủ điều kiện để nuôi con.
Theo chị L trình bày từ khi vợ chồng ly hôn đến nay chị nuôi con vẫn ổn định và đảm bảo. Hiện chị làm ruộng và bán hàng online trên mạng thu nhập không ổn định, có tháng 4.000.000đ-5.000.000đ có tháng 7.000.000đ-8.000.000đ. Nay anh L làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn chị không đồng ý.
Quá trình giải quyết cháu Trần Minh T trình bày từ ngày bố mẹ cháu ly hôn, hai chị em cháu vẫn ở cùng mẹ, mẹ vẫn nuôi hai chị em đảm bảo. Nay bố cháu làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với hai chị em cháu, cháu không đồng ý cháu xin ở với mẹ.
Xét việc xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh L thấy rằng hiện hai con đang ở cùng chị L từ khi vợ chồng ly hôn đến nay. Qua xác minh tại địa phương chị L hiện nay làm ruộng và bán hàng online, chị L có tài sản là thửa đất hiện nay anh L đang ở nhưng đã bán cho người khác, ngoài ra không có tài sản gì khác. Hiện tại bản thân chị L nuôi cả hai con là khó khăn. Thu nhập bình quân của người lao động tại địa phương khoảng 4.800.000đ đến 5.000.000đ/ 01 tháng /01 người. Chi phí sinh hoạt của một người trưởng thành tại địa phương khoảng 3.500.000đ/01 người/01 tháng. Chi phí sinh hoạt của một trẻ em từ 6 tuổi đến 8 tuổi tại địa phương bình quân 2.300.000đ/01 trẻ/ tháng. Chị L trình bày hiện nay chị làm ruộng và bán hàng online thu nhập có tháng 4.000.000đ-5.000.000đ có tháng 7.000.000đ-8.000.000đ. Như vậy chi phí tại địa phương với thu nhập của chị L nuôi hai con là không đảm bảo, khó khăn. Anh L hiện đi làm ở Công ty vận tải ô tô Vĩnh Phúc thu nhập ổn định, bình quân 6.000.000đ/ tháng cũng đảm bảo để nuôi một con. Do vậy để đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên nên giao cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, chị L nuôi cháu T theo bản án số 28/2020/HNGĐ-ST ngày 14/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Về án phí anh L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị có căn cứ, phù hợp với phần nhận định, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Quang L. Anh Trần Quang L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Minh T, sinh ngày 25/6/2013, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Anh Trần Quang L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào khoản tiền anh đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2020/0001804 ngày 08 /7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Anh L nộp đủ tiền án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THA huyện Lập Thạch; - Đương sự; - UBND xã Bắc Bình; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Trần Thị Huệ |