vanban.org

Bản án 45 — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng kho n 2 Điều 308, Điều 148 ộ luật t tụng dân sự, Điều 95, 96, 97, 100, kho n 1 Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n, không chấp nhận kh ng c o của …

c yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đ i với ông Phạm Quang Đ về việc ông T đòi ông Đ tr lại quyền sử dụng lô đất s 12P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên. Ông Đ tiếp tục sử dụng lô đất 12P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên, giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT Nguyễn Văn T - Phạm Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng kho n 2 Điều 308, Điều 148 ộ luật t tụng dân sự, Điều 95, 96, 97, 100, kho n 1 Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n, không chấp nhận kh ng c o của …
  • Căn cứ chính? Điều 166 Luật Đất đai; Điều 203 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 45/2022/DS - PT
Ngày: 27/6/2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Lý

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Mạnh Toàn và ông Hoàng Quý Sửu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lương Thị Thuý Linh - Thư ký Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Chức vụ: Kiểm s t viên.

Ngày 22 và ngày 27 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s 90/2021/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2021 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất".

Do b n n dân sự sơ thẩm s 13/2021/DS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên bị kh ng c o.

Theo quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm s 114/2021/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2021 giữa c c đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955 (có mặt)

Trú tại: Xóm TN, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

Uỷ quyền cho ông: Triệu Văn Q, sinh năm 1973 (có mặt)

Trú tại: Xóm V, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

2. Bị đơn: Anh Phạm Quang Đ, sinh năm 1972 (Có mặt)

Trú tại: Xóm PD, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

3. Người có quyền lợi và N vụ liên quan:

3.1 Uỷ ban nhân dân huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên

* Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Quang H - Chức vụ: Trưởng phòng Phòng T nguyên & môi T5 huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.2 à Lý Thị H1, sinh năm 1958 (vợ ông T) (Có mặt)

Trú tại: Xóm TN, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

Uỷ quyền cho ông: Triệu Văn Q, sinh năm 1973 (có mặt)

Trú tại: Xóm V, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

3.3 à Hoàng Thị H1, sinh năm 1977 (vợ ông Đ) (Vắng mặt)

Trú tại: Xóm PD, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên.

3.4 Ông Trịnh Văn H2, sinh năm 1967

3.5 Bà Lê Kim O, sinh năm 1971 (vợ ông H2)

Cùng trú tại: Xóm PD, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên

(Ông H2, bà O có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.6 Ông Nguyễn Mạnh H3, sinh năm 1958

3.7 à Lại Thị M, sinh năm 1960 (vợ ông H3)

Cùng trú tại: TDP TS, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên. (Ông H3, bà M có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.8 Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968 (vắng mặt

3.9 à Hoàng Thị T2, sinh năm 1970 (vợ ông T1) (vắng mặt)

Cùng trú tại: TDP C 2, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

3.10 Ông Lê Văn H4, sinh năm 1965 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.11 à Ngô Thị T3, sinh năm 1967 (Vợ ông H4) (vắng mặt)

Cùng trú tại: TDP CT 1, TT HS, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

3.12 à Trần Thị Hoa, sinh năm 1962 (vợ ông Vũ Khắc N) (vắng mặt)

Trú tại tại: TDP C 1, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

4. Người làm chứng:

4.1 Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1957 (vắng mặt)

4.2 Ông Lê Trọng B, sinh năm 1956 (vắng mặt)

Cùng trú tại: Tổ dân ph ST2, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai ông Nguyễn Văn T trình bày:

Năm 1994 tôi được U ND huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên cấp cho lô đất s 12P1 thuộc khu quy hoạch xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên (Giấy chứng nhận QSD đất s 588/QSDĐ ngày 07/05/1994) tôi không có nhu cầu sử dụng nên chuyển nhượng cho anh Lê Trọng B với gi 15.000.000 đ (mười lăm triệu đồng), tôi nhận đủ tiền nhưng hai bên chưa làm thủ tục trước bạ sang tên, tôi vẫn là người qu n lý lô đất đó. Đến th ng 11/2003 tôi làm thủ tục sang tên cho anh B thì ph t hiện bìa đỏ đã bị mất và lô đất s 12P1 đã bị anh Phạm Quang Đ làm nhà trên đất. Tôi đã làm đơn trình b o Công an huyện Đại Từ về việc bị mất bìa đỏ là Giấy chứng nhận QSD đất s 588/QSDĐ ngày 07/05/1994. Anh Phạm Quang Đ lấn chiếm và xây dựng nhà trên đất lô 12P1 của tôi. Nay tôi yêu cầu anh Phạm Quang Đ ph i tr lô đất 12P1 cho tôi.

à Lý Thị H1 (vợ ông Nguyễn Văn T): đồng ý với quan điểm của ông Nguyễn Văn T, buộc anh Phạm Quang Đ tr lại cho gia đình bà lô đất s 12P1 thuộc khu quy hoạch xóm PD, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Th i Nguyên.

Tại các lời khai, anh Phạm Quang Đ trình bày: Năm 1995 tôi mua của anh Nguyễn Mạnh H3 ở thị trấn Đại Từ (nay là thị trấn HS) huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên lô đất s 07P1 tại xóm PD, xã TH diện tích 90m2, ban đầu là anh S là anh trai tôi cùng đi mua. Tôi và anh S mới tr được 1/3 gi trị lô đất nên anh H3 đã làm sang tên đất cho anh S rồi nhưng vẫn giữ bìa đỏ đất tên anh S mà không đưa cho anh em tôi. Đến khi phân chia T s n giữa hai anh em thì anh S lấy nhà dưới thị trấn, tôi lấy lô đất 07P1, nhưng tôi vẫn chưa có tiền tr cho anh H3. Kho ng năm 2001 - 2002 anh Trịnh Văn H2 có lô đất s 12P1 có đặt vấn đề đổi thổ cư cho tôi, cụ thể anh H2 lấy lô đất s 07P1 của tôi, tôi lấy lô đất s 12P1. Vì lúc đó anh H3 đang giữ bìa đỏ cho tôi nên tôi b o anh H2 gặp anh H3 thương lượng khi đổi đất anh H2 có c c thêm tiền 3.000.000đồng. Do tôi mới tr 1/3 tiền mua đất nên tôi được 1.000.000 đồng, anh H3 lấy 2.000.000 đồng. Anh H2 làm thủ tục chuyển đổi lô đất 12P1 sang tên anh H3 và giao bìa đỏ lô đất s 12P1 cho anh H3. Khi tôi tr hết tiền cho anh H3 thì anh H3 đưa bìa đỏ cho tôi đi làm thủ tục chuyển từ tên anh H3 sang tên tôi. Khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 1419 ngày 19/9/2002 của U ND huyện Đại Từ mang tên tôi, tôi có đơn đến U ND huyện Đại Từ xin cấp phép làm nhà trên diện tích đất đó và đã được cấp phép xây dựng. Đầu năm 2003 vợ chồng tôi đã xây nhà trên đó và ở ổn định từ đó đến nay. Nay ông Nguyễn Văn T khởi kiện tôi, tôi không nhất trí với quan điểm của ông T. Tôi mua b n chuyển nhượng với ông H3, không liên quan gì đến ông T. Tôi đề nghị Tòa n gi i quyết vụ n theo quy định của ph p luật.

Bà Hoàng Thị H1 vợ anh Phạm Quang Đ trình bày: Tôi không đồng ý việc ông Nguyễn Văn T khởi kiện gia đình tôi. Nhất trí với quan điểm của anh Phạm Quang Đ.

Ông Nguyễn Văn T1 khai: Về quan hệ gia đình tôi là ch u rể ông Nguyễn Văn T, tôi với anh Lê Văn H4 là bạn bè với nhau. Kho ng năm 1996 tôi và anh H4 đi cùng với nhau khi qua cổng nhà ông T thì có nhặt được một chiếc bìa đỏ đất mang tên ông T. Sau khi nhặt được tôi và anh H4 đi về thì anh H4 b o tôi là đang cần tiền làm ăn nên cho anh H4 cầm bìa đi cắm, sau vài ba th ng thì sẽ tr lại cho ông T sau. Sau đó H4 mang bìa đỏ đi đâu làm gì tôi không hề biết, tôi không tham gia việc gì với H4 liên quan đến bìa đỏ của ông T.

Sau đó không thấy anh H4 nhắc chuyện này với tôi nữa cho đến kho ng cu i năm 2003 Công an huyện Đại Từ có gọi tôi lên làm việc liên quan đến bìa đỏ của ông T và anh H4, lúc này tôi mới biết việc anh H4 đã b n đất của nhà ông T. Tôi đã khai b o với công an đầy đủ về việc tôi nhặt được bìa đỏ sau đó anh H4 cầm như đã khai ở trên, tôi khẳng định không có việc tôi cùng với ông T, anh H4 đến nhà anh Đ vay tiền như anh Đ và anh H4 khai.

à Hoàng Thị T2 là vợ ông T1 khai: à gọi vợ chồng ông T là chú, dì. Bà T2 không biết gì về việc liên quan đến anh T1 nhặt được bìa đỏ của chú T và đề nghị Toà n không triệu tập đ i với bà.

Ông Lê Văn H4 khai: Tôi làm nghề may nên quen biết anh Nguyễn Văn T1 trú tại Ph C 2, thị trấn HS, Đại Từ. T1 nói với tôi có m nh đất mua của ông chú nhưng chưa sang tên bìa đỏ, mu n cầm c để lấy v n kinh dO (nhà anh T1 buôn b n c m và thức ăn chăn nuôi), tôi đồng ý. Lúc đó tôi nhớ là vào mùa gặt lúa (kho ng th ng 5, th ng 6) năm 1995, tôi dẫn T1 đến nhà anh Nguyễn Ngọc Đ (cán bộ Chi cục thuế huyện Đại Từ), trú tại Ph ST1, thị trấn HS để hỏi cắm bìa đỏ vay tiền cho T1. Khi đến nhà anh Đ, anh Đ xem giấy tờ vì thấy bìa đỏ mang tên ông T nên yêu cầu T1 pH gọi ông T đến thì mới cho vay. Hôm sau T1, ông T và tôi đến nhà anh Đ, tại đây theo yêu cầu của anh Đ ông T viết giấy vay tiền với anh Đ, s tiền vay là 10.000.000 đồng hẹn 01 th ng tr , lãi suất do hai bên tho thuận. Sau khi viết giấy xong anh Đ giữ bìa đỏ, T1 cầm tiền về. Sau đó T1 không có tiền nên b o tôi anh có mua đất thì sang nhà Đ tr tiền mà lấy bìa về, tôi nhất trí. Tôi gọi ông T và T1 ra th ng nhất xong ông T viết giấy b n đất lô 12 P1 cho tôi và có anh T1 ký làm người làm chứng. Sau đó tôi mang tiền đến tr lại cho anh Đ, s tiền c g c và phần lãi T1 chưa tr là 11.500.000đ, xé giấy nợ và lấy bìa đỏ mang tên anh T về, tôi xem thì thấy bìa đỏ lô đất 12 P1 mang tên ông Nguyễn Văn T, không có tên vợ ông T thời gian cấp là năm 1994. Sau khi mua tôi yên tâm vì khu vực đất nhà ông T tôi biết là dãy ruộng mặt đường qu c lộ 37 nhà nước đổ đất lên để quy hoạch thành đất ở. Kho ng cu i năm 1996, do tình hình kinh tế gia đình khó khăn tôi đến nhà anh Vũ Khắc N ở Ph C 1, thị trấn HS, huyện Đại Từ để vay tiền. Tôi cắm bìa đỏ của ông T cho anh N để vay 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), lãi suất là 3%/th ng. Sau đó kho ng vài th ng anh N đòi tiền nhưng do không có tiền tr nên tôi đã b n lại cho anh N lô đất 12P1 mang tên ông Nguyễn Văn T và kèm theo b n viết tay b n đất của ông T cho tôi có chữ ký làm chứng của anh T1, tôi viết cho anh N 01 giấy b n đất trong đó tôi nói rõ là b n lô đất của tôi mang tên ông Nguyễn Văn T. Sau này ông N chuyển nhượng mang đi b n cho người kh c thì cụ thể nội dung T4 nào tôi không được biết.

Bà Ngô Thị T3 là vợ ông H4 khai: bà có biết việc chồng bà mua lô đất của ông T có ông T1 làm chứng nhưng việc mua b n là do chồng bà thực hiện, bà không tham gia. Đề nghị Toà n gi i quyết vụ n theo quy định của ph p luật.

Tại c c lời khai ông Vũ Khắc N khai: Năm 1996 Lê Văn H4 có mang bìa đỏ tên anh T và Giấy b n đất của T bán lô 12P1 cho H4 có chữ ký làm chứng của T1 đến cắm lấy 10.500.000đ. Sau đó do H4 không có tiền tr nên b n lô đất đó cho tôi và giao luôn cho tôi bìa đỏ của T và giấy T b n đất cho H4 có T1 ký làm chứng.

Bà Trần Thị Hoa (vợ ông N) khai: chồng tôi công t c trong ngành công an từ năm 1980, sau đó mất vì bệnh ung thư từ năm 2010. Tôi nhận được thông b o thụ lý của Toà n về việc ông T kiện ông Đ và tôi là người có quyền lợi và N vụ liên quan nhưng tôi x c định tôi không biết gì về việc này. Nay ông T kiện ông Đ đề nghị Toà n gi i quyết theo ph p luật.

Tại các lời khai ông Trịnh Văn H2 trình bày: Kho ng th ng 3/2002 tôi có nhu cầu mu n mua đất và biết anh Vũ Khắc N công an huyện Đại Từ có một m nh đất mặt đường qu c lộ 37 ở khu vực dãy nhà tôi đang ở mu n b n. Tôi đến hỏi anh N, anh N x c nhận là có nhu cầu b n và cho tôi xem giấy tờ gồm có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất ở vị trí 12P1 mang tên anh Nguyễn Văn T ở TH. T liệu thứ hai là giấy b n đất của anh T cho anh Lê Văn H4 ở thị trấn HS có chữ ký của một người làm chứng là ông T1 nhưng không có x c nhận của chính quyền địa phương cùng một giấy b n đất của anh Lê Văn H4 cho anh Vũ Khắc N. Tôi tin tưởng anh N là c n bộ công an huyện Đại Từ nên đã quyết định mua lô đất đó, hai bên tho thuận gi c là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng), tôi giao đủ tiền cho anh N, anh N viết giấy b n lô đất 12P1 cho tôi đồng thời đưa cho tôi 01 giấy viết tay anh T b n đất cho anh H4; 01 giấy viết tay anh H4 b n đất cho anh N.

Sau khi mua được lô đất 12P1, tôi thấy lô đất 7P1 s t với nhà tôi đang ở chủ đất chưa làm nhà nên tôi có ý định xin đổi lô đất 12P1 lấy lô đất 7P1 s t nhà tôi để cho liền thửa đất. Tôi tìm hiểu được biết lô đất 7P1 là của anh Nguyễn Mạnh H3 đã b n cho anh Phạm Quang Đ nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng nên tôi gặp c anh H3 và anh Đ thì được biết lô đất 7P1 là anh H3 bán cho anh Đ nhưng lại do anh S (anh trai anh Đ) đứng tên, anh H3 x c nhận với tôi tiền mua đất là do anh Đ và anh S đi làm vàng về cùng tr , tôi hỏi anh S thì anh S nhất trí. Sau khi trao đổi th ng nhất anh H3 và anh Đ quyết định đồng ý đổi đất với tôi: Tôi lấy lô 7P1, anh Đ lấy lô 12P1 và tôi c c cho anh H3 2.000.000 đồng, anh Đ 1.000.000 đồng. Chúng tôi cùng nhau lập 01 biên b n đổi đất vào ngày 08/3/2002 và mời anh Lê Đắc Quý là người làm chứng (hôm đó anh S trên bãi vàng nên không có mặt trong buổi tho thuận). C c bên tho thuận miệng với nhau, tôi có tr ch nhiệm hoàn thiện toàn bộ thủ tục hồ sơ để có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của lô đất 12P1 mang tên anh Đ. Sau khi đổi đất xong tôi đến U ND xã TH gặp c n bộ địa chính để làm c c thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì được c n bộ địa chính hướng dẫn, để có được bìa đỏ lô 12P1 đứng tên vợ chồng anh Đ thì cần pH làm thủ tục chuyển nhượng từ anh T sang anh H3, sau đó lại làm thủ tục từ anh H3 sang anh Đ. Anh Thi là c n bộ địa chính xã TH có viết cho tôi hợp đồng chuyển nhượng giữa anh T với anh H3, tôi cầm hợp đồng lên nhà anh T mấy lần nhưng không gặp được anh T do thời gian này anh T đi làm gỗ ở La Hiên, Đình C (Võ Nhai) rất ít khi về nhà nên tôi nó lại với anh N công an huyện thì anh N lại đ m b o với tôi về việc mua b n là có thật nên tôi mang hợp đồng về nhờ anh Huân bạn tôi ký vào hợp đồng hộ sau đó nộp toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng cho anh Thi làm giúp. Khi tôi lấy được bìa đỏ mang tên anh H3 thì thì anh H3 và anh Đ tự làm thủ tục chuyển nhượng đất cho nhau, tôi không rõ ai trực tiếp làm hồ sơ; lô đất 7P1 tôi và anh S cùng nhau làm thủ tục từ tên anh S sang tên của tôi, nay anh S đã chết năm 2004. Do thủ tục mua b n đất và đổi c c lô đất 12P1 đã xong nên tôi không nhớ rõ giấy viết tay b n đất giữa anh T sang anh H4 đã bị thất lạc đi đâu, hình như khi tôi làm nhà bị mưa nên đã n t hết. Nay tôi đề nghị Toà n gi i quyết theo quy định của ph p luật.

Tại lời khai chị Lê Kim O (vợ anh Trịnh Văn H2) trình bày: Năm 2002 vợ chồng tôi có mua của ông Vũ Khắc N lô đất s 12P1 thuộc xóm PD, xã TH, Đại Từ, Th i Nguyên bìa đỏ mang tên ông Nguyễn Văn T. Khi mua bán ông N đã viết giấy b n và giao bìa đỏ mang tên ông T cho vợ chồng tôi. Cùng năm 2002 gia đình tôi có đặt vấn đề với anh Phạm Ngọc S (anh trai anh Đ) để đổi lô 12P1 lấy lô s 07P1 để tiện cho việc kinh dO anh S đồng ý. Lúc viết giấy đổi đất chỉ có Đ, S đi vắng, chúng tôi c c thêm cho anh Đ 1.000.000 đồng và đưa cho ông Nguyễn Mạnh H3 2.000.000 đồng. Sau đó anh H2 làm thủ tục và được cấp QSD đất, hiện tại trên lô đất s 07P1 gia đình tôi đã làm nhà kho để hàng. Nay ông T kiện anh Đ, đề nghị Toà n gi i quyết vụ n theo quy định của ph p luật.

Ông Nguyễn Mạnh H3 và bà Lại Thị M vợ ông H3 trình bày: Tôi được U ND huyện Đại Từ cấp cho lô đất s 07P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, Th i Nguyên. Tôi không có nhu cầu sử dụng nên chuyển nhượng lô đất đó cho anh Phạm Quang Đ và anh S, theo thỏa thuận tôi làm giấy tờ chuyển nhượng cho anh S (anh trai anh Đ), anh Đ đưa tôi trước 1/3 s tiền trị gi lô đất s 07P1, vợ chồng tôi sang tên lô đất cho anh S theo thỏa thuận. Đến năm 2002 anh Trịnh Văn H2 có đặt vấn đề đổi thổ cư giữa lô 12P1 và lô 07P1, được anh Đ nhất trí nên tôi cũng đồng ý, lúc đó vợ chồng tôi giao lại bìa đỏ lô đất s 07P1 mang tên anh Phạm Thanh S cho anh Đ, anh Trịnh Văn H2 có c c cho tôi 2.000.000đồng, anh Đ 1.000.000đồng. (S tiền tôi nhận 2.000.000đ là s tiền anh Đ và anh S còn tH4 khi mua lô đất 07P1 của tôi). Việc chuyển đổi hai lô đất về sau tôi có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Đ. Nay tôi x c định không liên quan gì đến việc tranh chấp giữa ông T và anh Đ, tôi cũng không tranh chấp gì với anh Đ.

Ông Lê Trọng B khai: Năm 1994 tôi mua lô đất s 12P1 của ông Nguyễn Văn T với gi 15.000.000đ, tôi đã tr hết tiền cho ông T, khi đó ông T chưa được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất này nên hai bên viết giấy mua b n lô đất 12P1 với nhau và th ng nhất khi nào lấy được bìa đỏ thì ông T đưa cho ông B, ông B nhất trí. Đầu năm 1995 ông KH anh trai ông T (l i xe của huyện ủy Đại Từ) đến nhà đưa cho ông B 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s C516068, s vào sổ là 645/QSDĐ ngày 09/01/1995 mang tên ông Nguyễn Văn T. Do hoàn c nh gia đình kinh tế khó khăn năm 2003 tôi có nhu cầu làm nhà nên đến tìm ông T làm thủ tục sang tên. Ông T nói là không tìm thấy bìa đỏ thì tôi có đưa bìa đỏ cho ông T xem nhưng lô đất 12P1 đã có người làm nhà trên đó. Sau đó tôi đã khởi kiện ông T và Toà n tỉnh Th i Nguyên đã Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên và buộc vợ chồng ông T pH tr cho ông B 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Nay tôi không liên quan gì đến vụ n này đề nghị Toà n gi i quyết vụ n theo quy định của ph p luật.

Ông Nguyễn Ngọc Đ khai: Tôi và anh T1 (ngày xưa chuyên b n c m chăn nuôi) và anh H2 là thợ may là chỗ quen biết bình thường không T1 thiết. Đ i với ông T tôi chỉ biết chứ không quen. Kho ng giữa năm 1995, anh H4 đưa anh T1 đến nhà tôi hỏi vay tiền, anh T1 đưa bìa đỏ cho tôi và nói chú T b n đất cho em nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng anh cho em vay tiền. Tôi xem bìa đỏ thấy tên Nguyễn Văn T nên b o T1 mu n vay tiền thì pH b o T xuồng viết giấy cắm bìa đỏ vay tiền. Hôm sau T1, T và H4 đến , anh T viết giấy cắm bìa đỏ vay 10.000.000đ sau một th ng tr , tiền lãi đã lâu tôi không nhớ rõ. Hết hạn vay tôi thấy H4 và T1 mang tiền xu ng tr H4 đưa tiền cho tôi, tôi đưa bìa đỏ cho H4 và ba chúng tôi th ng nhất xé giấy vay tiền ngay tại chỗ. Kho ng năm 2004, 2005 anh T kiện ra Toà có gọi tôi xu ng tôi khai đúng sự việc đã x y ra. Sau đó Toà n cho tôi anh T, anh T1, anh H4 đ i chất với nhau. Tại buổi đ i chất tôi đã trình bày trung thực sự việc đã khai với Toà n trước đó, anh H4 cũng khai gi ng tôi nhưng anh T và anh T1 lại không thừa nhận việc đến nhà tôi cùng với anh H4 để vay tiền. Tôi khẳng định việc tôi khai là đúng sự thật, tôi không hiểu tại sao anh T và anh T1 lại không thừa nhận việc hai người đến nhà tôi viết giấy T4 chấp bìa đỏ để vay tiền.

Ông Trần Văn T4 - Trưởng xóm PD, xã TH, huyện ĐT khai: tôi đã làm trưởng xóm từ năm 2009 cho đến nay. Kho ng năm 1993 - 1994 nhà nước có chế độ ưu tiên c c gia đình chính s ch và bị nhà nước thu hồi một phần ruộng được ưu tiên mua 01 lô đất dọc qu c lộ 37 (thuộc xã TH). Anh Đ chị H1 là một trong những hộ đầu tiên xây nhà trên dãy mặt đường qu c lộ 37 do nhà nước cắm. n T1 ông T ở trong xóm TN, đi ra qu c lộ 37 buộc pH đi qua lô đất 12P1 nên chắc chắn và buộc ph i biết rõ việc vợ chồng anh Đ xây nhà trên lô đất 12P1.

Ông Nguyễn Văn S1 (em trai ông T) khai: Tôi là con thứ 6 trong gia đình có 9 anh em, anh T là anh trai của tôi. n T1 tôi cũng có một lô đất cùng thời điểm với lô đất của anh T, gần nhà anh Đ - H1. Tuy nhiên đây là việc nội bộ của nhà anh T nên cụ thể mua b n, đổi ch c T4 nào tôi không được biết. Vị trí đất của nhà tôi sau đó đến đất của nhà anh Đ - H1, sau đó đến nhà H2 - O. Tôi xây nhà ở m nh đất này từ năm 1999, nhà Đ - H1 xây sau nhà tôi.

Ông Nguyễn Văn T5 (em trai ông T) khai: Nhà tôi ở gần khu vực nhà anh H2 - O và nhà Đ - H1, m nh đất của anh T là m nh đất chính tên chính chủ, đã có bìa đỏ. Phía vợ chồng Đ - H1 cũng có lô đất mặt đường ở cạnh đó, s t nhà H2 - O nên Đ đã đổi m nh đất ở gần nhà H2 - O lấy m nh đất của anh T (lúc đó H2 - O đang giữ). Trong vụ việc này, người gây ra rắc r i chính là nhà H2 - O, còn nhà anh Đ - H1 đổi đất là ngay thẳng và đã xây nhà ở đó từ năm 2002.

Ông Nguyễn Quang KH (anh trai ông T) khai: Trước đây tôi là l i xe của huyện uỷ và sau là U ND huyện Đại Từ, đến năm 2009 thì tôi về nghỉ hưu. Về việc mua b n, chuyển nhượng thửa đất của em T tôi không biết. Việc thửa đất của em T có 02 giấy CNQSDĐ tôi không hề biết, tôi chỉ là l i xe nên không có kh năng và thẩm quyền để làm được, chủ sử dụng đất là em trai tôi là chú T mới có quyền làm được. Việc ông B khai tôi là người làm bìa đỏ là không đúng sự thật. Vị trí cụ thể của chú T ở chỗ nào tôi cũng không biết nên việc anh Đ xây nhà trên đất của chú T vào thời gian nào tôi cũng không biết.

Ông Nguyễn Trọng T6 (em trai ông T) khai: Nhà tôi ở cạnh nhà anh KH, đ i với sự việc thửa đất nhà anh T tôi có ý kiến như sau: Anh T có một lô đất s 12P1 tại xã TH, vợ chồng anh Đ - H1 có một lô đất s 07 cùng dãy với lô đất của anh T. Lô đất của T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994. Do anh Đ - H1 có một lô đất gần đó nên đã đổi cho nhà anh H2 - O, việc đổi đất của anh Đ là ngay thẳng và đã xây nhà ở đó từ năm 2002. Tôi không biết m nh đất 12P1 của anh T có mấy bìa đỏ, tôi chỉ biết nguồn g c của những m nh đất ở dãy mặt đường qu c lộ 37 là do nhà nước lấy đất ruộng của mẹ tôi và cắm lại cho nhà tôi 03 lô đất, trong đó anh T, anh T5 và anh S1 được mỗi người một lô. Hiện nay anh S1 vẫn ở đó còn em T5 thì đã b n lô đất được cắm và mua một lô đất kh c c ch nhà anh T kho ng 500m, c c anh em đều đã xây nhà ở ổn định ở đây nhiều năm.

Người đại diện theo uỷ quyền cho UBND huyện Đại Từ khai:

* Việc cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn T:

Năm 1994, ông Nguyễn Văn T trúng đấu gi lô đất s 12P1 tờ b n đồ quy hoạch khu dân cư xã TH và được U ND huyện Đại Từ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s sê ri 772430 s vào sổ 588 cấp ngày 07/5/1994 diện tích 90m2 đất ONT. Trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất trên là đúng quy định của ph p luật. Sau đó, ông Nguyễn Văn T tiếp tục làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất 12P1 tờ b n đồ quy hoạch khu dân cư xã TH được UBND xã TH x c nhận đủ điều kiện cấp GCNQSD đất (Kèm theo Quyết định s 258/QĐ-U ND ngày 05/4/1994 của U ND huyện về việc cấp đất làm nhà ở) và đã được U ND huyện Đại Từ cấp GCNQSD đất s 645 s sê ri C 516068 cấp ngày 09/01/1995.

Việc ông T đã được cấp GCNQSD đất lô s 12P1 tờ b n đồ quy hoạch khu dân cư xã TH năm 1994 nhưng giữa năm 1994 ông T tiếp tục kê khai đề nghị U ND huyện cấp GCNQSD đất lô đất trên là không đúng quy định.

Việc lô đất 12P1 tờ b n đồ quy hoạch xã TH được cấp 02 GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn T như trên (một lô đất có 02 GCNQSD đất) là không đúng quy định của ph p luật, do đó ngày 08/12/2005 U ND huyện Đại Từ đã có Quyết định s 3054/QĐ-U ND về việc hủy bỏ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyển sử dụng đất và thu hồi, hủy bỏ GCNQSD đất s sê ri C 516068, s vào sổ 645 do U ND huyện Đại Từ cấp ngày 09/01/1995 tại lô đất s 12P1 tờ b n đồ quy hoạch xã TH mang tên ông Nguyễn Văn T xã TH. Vì vậy, GCNQSD đất s sê ri C 516068, s vào sổ 645 như trên hiện nay không có gi trị.

* Việc cấp GCNQSD đất cho ông Phạm Quang Đ:

Năm 2002, ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng lô đất s 12P1 tờ b n đồ quy hoạch khu dân cư xã TH diện tích 90m2 đất ONT tại GCNQSD đất s s sê ri 772430 s vào sổ 588 cấp ngày 07/5/1994 cho ông Nguyễn Mạnh H3, thường trú tại TDP ST1, thị trấn HS, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên, ông Nguyễn Mạnh H3 đã được U ND huyện Đại Từ cấp GCNQSD đất s sê ri C 552472 s vào sổ 1404 cấp ngày 27/5/2002. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp GCNQSD đất trên là đúng quy định của ph p luật.

Ngày 19/9/2002 ông Nguyễn Mạnh H3 chuyển nhượng lô đất s 12P1 tờ b n đồ quy hoạch khu dân cư xã TH cho ông Phạm Quang Đ, thường trú xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên, ông Phạm Quang Đ đã được U ND huyện Đại Từ cấp GCNQSD đất, cấp phép xây dựng. Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp GCNQSD đất trên là đúng quy định của ph p luật. Hiện trạng trên lô đất gia đình ông Phạm Quang Đ đang qu n lý, sử dụng và có nhà xây 3 tầng kiên c .

Như vậy hiện nay lô đất 12P1 có 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn T và mang tên ông Phạm Quang Đ nhưng do Toà n đang thụ lý gi i quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và ông Phạm Quang Đ nên U ND huyện Đại Từ không thu hồi một trong hai giấy chứng nhận quyền sử dụng nói trên mà đề nghị Tòa n nhân dân huyện Đại Từ xem xét c c hồ sơ, T liệu để gi i quyết vụ n theo đúng quy định của ph p luật.

Đ i với việc ông Phạm Quang Đ đã xây nhà 3 tầng trên lô đất 12P1, thời điểm ông Đ xây nhà ông Đ có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có cấp phép xây dựng nay đề nghị Tòa n nhân dân huyện Đại Từ xem xét c c hồ sơ, T liệu để gi i quyết vụ n theo đúng quy định của ph p luật.

Vụ n tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và anh Phạm Quang Đ bắt đầu từ năm 2004, Toà n nhân dân huyện Đại Từ thụ lý vụ n s 19/DSST ngày 08/4/2004, vụ n đã được c c cấp Toà n gi i quyết nhiều lần, cụ thể:

Lần 1: Tại b n n s 07/2006/DSST ngày 06/3/2006 Tòa n nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên đã tuyên xử:

1. Công nhận quyền sử dụng hợp pháp lô đất 12 P1 tại xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên của ông Nguyễn Văn T.

2. Giao cho ông Nguyễn Văn T sử dụng nhà và T sản trên lô đất số 12 P1 sau khi thanh toán cho anh Phạm Quang Đ số tiền 74.440.000đ (Bẩy mươi tư triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng)

3. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lô đất số 12 P1 giữa anh Lê Văn H4 và anh Vũ Khắc N, giữa anh Vũ Khắc N và anh Trịnh Văn H2.

- Buộc anh Lê Văn H4 thanh toán cho anh Vũ Khắc N 59.000.000đ (năm mươi chín triệu đồng)

- Buộc anh Vũ Khắc N thanh toán cho anh Trịnh Văn H2 số tiền 59.250.000 đ (năm mươi chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 1/5/2002 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Mạnh H3 vì không có thực tế.

2. Hủy bỏ hợp đồng chuyển đổi lô đất 07P1 và lô 12P1 lập ngày 08/3/2002 giữa anh H2, anh Đ và anh H3.

Buộc anh Trịnh Văn H2 trả lô đất 07P1 cho anh Phạm Quang Đ.

Buộc anh Đ hoàn lại cho anh Trịnh Văn H2 số tiền 1.000.000 đ (một triệu đồng).

Buộc anh Nguyễn Mạnh H3 hoàn lại cho anh Trịnh Văn H2 số tiền là 2.000.000 đ hai triệu đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Kiến nghị UBND huyện Đại Từ thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô số 07P1 và lô 12 P1 mang tên Trịnh Văn H2 và Phạm Quang Đ theo đúng số lô, vị trí đã được xác định.

Anh T, anh Đ, anh H4 không nhất trí với b n n sơ thẩm đã làm đơn kh ng cáo phúc thẩm. Tại b n n s 54/DSPT ngày 12/6/2006 của Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên đã tuyên hủy b n n dân sự s 07/2006/DSST ngày 06/3/2006 của TAND huyện Đại Từ giao hồ sơ về Tòa n huyện Đại Từ xét xử lại vụ n.

Lần 2: Tại Quyết định s 06/2006/QĐST - DS ngày 06/9/2006 Tòa án nhân dân huyện Đại Từ đã quyết định đình chỉ vụ n dân sự với lý do nguyên đơn không yêu cầu Tòa n gi i quyết vụ n theo điểm c kho n 1 điều 192 ộ luật t tụng dân sự. Tiền tạm ứng n phí của c c đương sự được sung vào công quỹ nhà nước.

Không đồng ý với Quyết định trên, ông T kh ng c o Quyết định đình chỉ. Tại Quyết định s 01/2006/QĐ - PT ngày 19/10/2006 Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên không chấp nhận việc kh ng c o qu hạn đ i với ông Nguyễn Văn T.

Ông T tiếp tục làm đơn đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ khởi t vụ n hình sự. Tại Quyết định s 03, ngày 08/01/2007 Trưởng Công an huyện Đại Từ đã ra Quyết định không khởi t vụ n hình sự đ i với yêu cầu của ông Nguyễn Văn T.

Lần 3: Ngày 11/5/2009 ông T tiếp tục làm đơn khởi kiện anh Đ tranh chấp quyền sử dụng đất lô đất s 12P1. Tại Quyết định s 21/2009/QĐĐC ngày 23/11/2009, Tòa n nhân dân huyện Đại Từ đã ra Quyết định đình chỉ gi i quyết vụ n với lý do: Hết thời hiệu khởi kiện theo điểm a kho n 1 Điều 168 của ộ luật TTDS. Ông T không đồng ý với việc đình chỉ của Tòa n đã làm đơn kh ng c o.

Tại Quyết định s 39/2010/DSPT ngày 17/6/2010 Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên đã quyết định giữ nguyên Quyết định đình chỉ s 21/2009/QĐĐC ngày 23/11/2009 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ. Ông T tiếp tục kH4 nại.

Quyết định kh ng nghị s 165/2013/KN-DS ngày 06/5/2013, Chánh án TAND T i cao đã kh ng nghị quyết định s 39/2010/DSPT, ngày 17/6/2010 của TAND tỉnh Th i Nguyên.

Tại Quyết định s 312/2013/DSGĐT, ngày 23/7/2013, TANDTC đã hủy toàn bộ Quyết định s 39/2010/DS - PT ngày 17/6/2010 của Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên và Quyết định đình chỉ s 21/2009/QĐĐC, ngày 23/11/2009 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ để xét xử sơ thẩm lại theo quy định của ph p luật.

Lần 4: Tại b n n s 06/2014/DSST ngày 24/11/2014 Tòa n nhân dân huyện Đại Từ đã Quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với anh Phạm Quang Đ về việc đòi quyền sử dụng lô đất số 12 P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Buộc anh Trịnh Văn H2 thanh toán cho ông Nguyễn Văn T, bà Lý Thị H1 tiền giá trị quyền sử dụng lô đất 12 P1 tờ bản đồ quy hoạch xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là 387.000.000 đ (Ba trăm tám mươi bẩy triệu đồng) và 3.020.000đ (ba triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) tiền chi phí giám định, tổng cộng là 390.202.000đ (Ba trăm chín mươi triệu không trăm hai mươi nghìn).

Anh Phạm Quang Đ, chị Hoàng Thị H1 được sở hữu 01 nhà xây ba tầng và được quyền sử dụng 90m2 đất thổ cư tại lô 12P1 bản đồ quy hoạch xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Hủy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 1419, ngày 19/9/2002 do UBND huyện Đại Từ cấp cho anh Phạm Quang Đ, đề nghị UBND huyện Đại Từ cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất cho anh Phạm Quang Đ theo quy định của pháp luật và theo quyết định của bản án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự

Không nhất trí với b n n ông Nguyễn Văn T và anh Trịnh Văn H2 tiếp tục làm đơn kh ng c o b n n lên cấp phúc thẩm. Tại b n n s 21/2015/DSPT ngày 20/5/2015 của Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên đã Quyết định Hủy toàn bộ b n n dân sự sơ thẩm s 06/2014/DSST ngày 24/11/2014 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên. Chuyển hồ sơ vụ n cho Tòa n cấp sơ thẩm gi i quyết vụ n theo thủ tục chung.

Lần 5. Tại b n n dân sự sơ thẩm s 04/2016/DSST ngày 15/3/2016 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ, tuyên xử:

Hủy hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa anh Trịnh Văn H2 với anh Nguyễn Mạnh H3 và anh Phạm Quang Đ lập ngày 08/3/2002 do vô hiệu và Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Phạm Thanh S và anh Trịnh Văn H2 lập ngày 22/8/2002 do hợp thức hóa.

Hủy giấy chứng nhận QSD số W194239 cấp ngày 02/10/2002 mang tên Trịnh Văn H2, lô 07P1 diện tích 90m2. (Đã được cấp đổi sang giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BA 226886 cấp ngày 19/10/2010 mang tên Trịnh Văn H2 và Lê Kim O).

Buộc anh Nguyễn Mạnh H3 thanh toán cho anh Trịnh Văn H2 2.000.000đ tiền gốc và bồi thường thiệt hại cho anh H2 số tiền là 65.666.666đ. Tổng cộng là 67.666.666đ. Buộc anh Phạm Quang Đ thanh toán cho anh Trịnh Văn H2 số tiền là 1.000.000đ và bồi thường thiệt hại cho anh H2 số tiền là 32.333.333đ. Tổng cộng là 33.333.333đ.

Buộc anh Trịnh Văn H2 và chị Lê Kim O tháo dỡ toàn bộ vật liệu, công trình xây tạm trên lô đất quy hoạch 07P1 xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

2. Ghi nhận sự thỏa thuận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T và anh Phạm Quang Đ. Giao cho ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng lô đất số 07P1. Giao cho anh Phạm Quang Đ được quyền sử dụng lô đất số 12 P1 đều thuộc xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Án sơ thẩm còn tuyên về n phí và quyền kh ng c o của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm s t nhân dân huyện Đại Từ kh ng nghị, ông T, ông Đ, người có quyền lợi và N vụ liên quan kh ng c o.

Tại b n n dân sự phúc thẩm s 33/2016/DS-PT ngày 27/7/2016 của Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên đã quyết định: Chấp nhận kh ng nghị của VKS nhân dân huyện Đại Từ, kh ng c o của ông Nguyễn Văn T, anh Phạm Quang Đ, anh Trịnh Văn H2, anh Nguyễn Mạnh H3. Huỷ b n n dân sự sơ thẩm s 04/2016/DSST ngày 15/3/2016 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ

Tại b n n DSST s 03/2019/DSST ngày 16/4/2019 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với ông Phạm Quang Đ về việc đòi quyền sử dụng lô đất số 12 P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Buộc ông Phạm Quang Đ thanh toán cho ông Nguyễn Văn T, bà Lý Thị H1 tiền giá trị quyền sử dụng lô đất 12 P1 tờ bản đồ quy hoạch xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là 990.000.000đ (Chín trăm chín mươi triệu đồng)

Ông Phạm Quang Đ, bà Hoàng Thị H1 được sở hữu 01 nhà xây ba tầng và được quyền sử dụng 90m2 đất thổ cư tại lô 12P1 bản đồ quy hoạch xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Hủy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 1419, ngày 19/9/2002 do UBND huyện Đại Từ cấp cho ông Phạm Quang Đ. Đề nghị UBND huyện Đại Từ cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất cho ông Phạm Quang Đ theo quy định của pháp luật và theo quyết định của bản án. Kiến nghị UBND huyện Đại Từ thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất của ông Nguyễn Văn T tại thửa đất 12P1, diện tích 90m2 tại xã TH, cấp ngày 07/5/1994 theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm có kh ng c o, b n n phúc thẩm s 74/2019/DS-PT ngày 15/11/2019 của Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên, quyết định: Huỷ b n n dân sự sơ thẩm s 03/2019/DSST ngày 16/4/2019 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ tỉnh Th i Nguyên chuyển về Toà n cấp sơ thẩm để gi i quyết lại.

Tại b n n dân sự sơ thẩm s 13/2021/DSST ngày 28/9/2021 Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 188, Điều 266, Điều 227, Điều 259, Điều 264, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 104/2015/QH 13 ngày 25/11/2015, Điều 73, Điều 79 Luật đất đai 1993, Điều 106 Luật Đất đai 2013, Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, khoản 4 mục II Giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với anh Phạm Quang Đ về việc ông T đòi anh Đ trả lại quyền sử dụng lô đất số 12 P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ là 588/QSDĐ ngày 07/5/1994, số tờ bản đồ là QH, số thửa 12P1, diện tích đất là 90m2 , mục đích sử dụng đất là thổ cư, thời hạn sử dụng là lâu dài mang tên ông Nguyễn Văn T do UBND huyện Đại Từ cấp ngày 07/5/1994.

Anh Đ tiếp tục sử dụng lô đất 12 P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 552104 đối với diện tích đất là 90m2 , số tờ bản đồ là QH, số thửa 12P1, mục đích sử dụng đất là thổ cư, thời hạn sử dụng là lâu dài mang tên ông Phạm Quang Đ do UBND huyện Đại Từ cấp ngày 19/9/2002.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T pH nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ sang - BL số 007794 ngày 04/9/2009; ông T còn pH nộp 68.700.000đ (sáu mươi tám triệu bẩy trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả anh Đ 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu phản tố tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại từ - BL số 0010900 ngày 17/9/2015.

Ngoài ra b n n sơ thẩm còn tuyên quyền kh ng c o cho c c đương sự theo quy định của ph p luật.

Ngày 11/10/2021 Toà n nhân dân huyện Đại Từ nhận đơn kh ng c o của ông Nguyễn Văn T, kháng cáo yêu cầu huỷ toàn bộ b n n sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm ông Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung kh ng c o.

Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên ph t biểu sự tuân theo ph p luật của Thẩm ph n, chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ n đến trước khi nghị n đã thực hiện đúng c c quy định của ộ luật t tụng dân sự. Về quan điểm gi i quyết vụ n: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ kho n 1 Điều 308 ộ luật t tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n. Không chấp nhận kh ng c o của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên b n n dân sự sơ thẩm của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên. Miễn n phí phúc thẩm và sơ thẩm cho ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t ph t biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục t tụng:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T kh ng c o trong hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về sự có mặt của những người tham gia phiên toà: Những người có quyền lợi N liên quan là U ND huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên; ông Nguyễn Mạnh H3, bà Lại Thị M, bà Lê Kim O, Trịnh Văn H2, Lê Văn H4 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Hoàng Thị H1, ông Nguyễn Văn T1, bà Hoàng Thị T2, bà Ngô Thị T3, bà Trần Thị Hoa vắng mặt không có lý do. Người làm chứng là ông Nguyễn Ngọc Đ và ông Lê Trọng B vắng mặt. Xét thấy những người nêu trên đã có đơn xin xét xử vắng mặt, được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ kho n 2 Điều 227 và kho n 2 Điều 228 ộ luật t tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt c c đương sự nêu trên.

Trong thời gian nghị n Hội đồng xét xử nhận được đơn yêu cầu dừng phiên toà của nguyên đơn với nội dung phần tranh luận không được Hội đồng xét xử xem xét thấu đ o. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu này của phía nguyên đơn không phù hợp với quy định của ph p luật và diễn biến phiên toà nên không được chấp nhận.

Xét kh ng c o của ông Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về nguồn g c thửa đất 12P1 khu quy hoạch xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên, năm 1994 được cấp cho ông Nguyễn Văn T. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s vào sổ là 588/QSDĐ ngày 07/5/1994, s tờ b n đồ là QH, s thửa 12P1, diện tích đất là 90m2 , mục đích sử dụng đất là thổ cư, thời hạn sử dụng là lâu dài (sau đây gọi là GCNQSDĐ ngày 07/5/1994).

Qu trình qu n lý sử dụng thửa đất.

Năm 1994 ông Nguyễn Văn T b n cho ông Lê Trọng B thửa đất 12P1 với gi 15.000.000đ, ông B đã tr hết tiền cho ông T, khi đó ông T chưa được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất này nên hai bên viết giấy mua b n lô đất 12 P1 với nhau và th ng nhất khi nào lấy được bìa đỏ thì ông T đưa cho ông B, ông B nhất trí. Do ông T không giao được đất. Nên ông B đã khởi kiện ông T và hai bên đã gi i quyết xong.

Năm 2003 ông Nguyễn Văn T có đơn trình b o cơ quan Công an về việc bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( L 110, 111.. tập 7) kèm theo đơn trình b o là b n tường trình của Nguyễn Văn T1 và Lê Văn H4 ( L 104, 105, 106 … tập 7) nội dung tường trình cho rằng H4 và T1 đi qua cổng nhà ông T nhặt được giấy chứng nhận của ông T, H4 mượn đi cắm, sau đó H4 b n đất của T.

Qu trình gi i quyết thì ông Lê Văn H4 khai do quen biết Nguyễn Văn T1 trú tại Ph C 2, thị trấn HS, Đại Từ. T1 nói với H4 có m nh đất mua của ông chú nhưng chưa sang tên bìa đỏ, mu n cầm c để lấy v n kinh dO H4 dẫn T1 đến nhà anh Nguyễn Ngọc Đ (c n bộ Chi cục thuế huyện Đại Từ), trú tại Ph ST1, thị trấn HS để hỏi cắm bìa đỏ vay tiền cho T1. Khi đến nhà anh Đ, anh Đ xem giấy tờ vì thấy bìa đỏ mang tên ông T nên yêu cầu T1 pH gọi ông T đến thì mới cho vay. Hôm sau T1, ông T và H4 đến nhà anh Đ, tại đây theo yêu cầu của anh Đ ông T viết giấy vay tiền với anh Đ, s tiền vay là 10.000.000 đồng. Sau khi viết giấy xong anh Đ giữ bìa đỏ, T1 cầm tiền về. Sau đó T1 không có tiền nên b o H4 có mua đất thì sang nhà Đ tr tiền mà lấy bìa về, ông T viết giấy b n đất lô 12P1 cho H4 và có T1 ký làm người làm chứng.

Năm 1996, H4 đến nhà anh Vũ Khắc N ở Ph C 1, thị trấn HS, huyện Đại Từ để vay tiền, do không có tiền tr nên H4 đã b n lại cho anh N lô đất 12P1 mang tên ông Nguyễn Văn T và kèm theo b n viết tay b n đất của ông T cho H4 có chữ ký làm chứng của anh T1. (BL 25, 26, 98, 99,105 tập 7 và bút lục 272, 273 tập 1…)

Mặc dù ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Văn T không thừa nhận việc cùng nhau đến nhà Nguyễn Ngọc Đ để vay tiền và cầm c GCNQSDĐ ngày 07/5/1994. Sau đó ông Nguyễn Văn T viết giấy b n đất cho Lê Văn H4. Nhưng những T liệu trong hồ sơ thể hiện lời khai của ông Nguyễn Ngọc Đ “Năm 1995 H4 đưa T1 đến nhà tôi vay tiền thấy bìa đỏ tên T nên đã yêu cầu T đến….” (BL 35, 36, 103 tập 7; BL 352 tập 2…) Bản báo cáo của ông Vũ Khắc N (BL 115 tập 7) và b n tự khai của ông N (BL 108, tập 7): “ Năm 1996 H4 bán cho N lô đất 12P1 kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bản viết tay bán đất của ông T cho H4 có chữ ký làm chứng của anh T1…” Lời khai của ông Trịnh Văn H2: “Năm 2002 tôi có mua của anh Vũ Khắc N lô đất 12P1. Anh N giao cho tôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn T; 01 giấy bán đất của Nguyễn Văn T cho Lê Văn H4 có chữ ký của T1” (BL 13, 14, 109 tập 7…)

Như vậy, không có căn cứ để cho rằng ông Nguyễn Văn T bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, H4 và T1 nhặt được mang đi T4 chấp và H4 b n đất của T.

Về thực tế sử dụng đất:

Ông Phạm Quang Đ trình bày: “Năm 1995 tôi mua của anh Nguyễn Mạnh H3 ở thị trấn Đại Từ (nay là thị trấn HS) huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên lô đất s 07P1 tại xóm PD, xã TH diện tích 90m2 , ban đầu là anh S là anh trai tôi cùng đi mua. Tôi và anh S mới tr được 1/3 gi trị lô đất nên anh H3 đã làm sang tên đất cho anh S rồi nhưng vẫn giữ bìa đỏ đất tên anh S mà không đưa cho anh em tôi. Đến khi phân chia T s n giữa hai anh em thì anh S lấy nhà dưới thị trấn, tôi lấy lô đất 7P1, nhưng tôi vẫn chưa có tiền tr cho anh H3. Kho ng năm 2001 - 2002 anh Trịnh Văn H2 có lô đất s 12 P1 có đặt vấn đề đổi thổ cư cho tôi, cụ thể anh H2 lấy lô đất s 07 P1 của tôi, tôi lấy lô đất s 12 P1. Vì lúc đó anh H3 đang giữ bìa đỏ cho tôi nên tôi b o anh H2 gặp anh H3 thương lượng khi đổi đất anh H2 có c c thêm tiền 3.000.000 đồng. Do tôi mới tr 1/3 tiền mua đất nên tôi được 1.000.000 đồng, anh H3 lấy 2.000.000 đồng. Anh H2 làm thủ tục chuyển đổi lô đất 12 P1 sang tên anh H3 và giao bìa đỏ lô đất s 12 P1 cho anh H3. Khi tôi tr hết tiền cho anh H3 thì anh H3 đưa bìa đỏ cho tôi đi làm thủ tục chuyển từ tên anh H3 sang tên tôi. Khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 1419 ngày 19/9/2002 của U ND huyện Đại Từ mang tên tôi, tôi có đơn đến U ND huyện Đại Từ xin cấp phép làm nhà trên diện tích đất đó và đã được cấp phép xây dựng. Đầu năm 2003 vợ chồng tôi đã xây nhà trên đó và ở ổn định từ đó đến nay”

Ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông mới nhận nhận quyết định giao đất chưa được U ND huyện Đại Từ giao lô đất 12P1 trên thực tế, nên không biết lô đất ở đâu.

Tuy nhiên, tại đơn khai b o mất bìa đỏ ông T gửi Công an huyện Đại Từ ngày 11/11/2003 lưu trong hồ sơ, ông T nêu rõ vị trí, tứ cận gi p đâu và đã b n cho ông B ( L 89 tập 7); Tại đơn đề nghị gửi UBND xã TH, U ND huyện Đại Từ…ngày 05/11/2003 ông T cũng mô t tỉ mỉ về lô đất như vị trí, kích thước…( L 84 tập7); tại đơn ông T viết gửi b o Nhân dân, b o Lao Động ngày 26/4/2004 thì cũng mô t rõ về vị trí thửa đất….(BL 85 tập7).

Ngoài ra, những người làm chứng là ông Nguyễn Văn S1 (em trai ông T) khai: Anh T là anh trai của tôi. n T1 tôi cũng có một lô đất cùng thời điểm với lô đất của anh T, gần nhà anh Đ - H1. Tuy nhiên đây là việc nội bộ của nhà anh T nên cụ thể mua b n, đổi chác T4 nào tôi không được biết. Vị trí đất của nhà tôi sau đó đến đất của nhà anh Đ - H1, sau đó đến nhà H2 - O. Tôi xây nhà ở m nh đất này từ năm 1999, nhà Đ - H1 xây sau nhà tôi. ( L 62 tập 7)

Ông Nguyễn Văn T5 (em trai ông T) khai: Nhà tôi ở gần khu vực nhà anh H2 - O và nhà Đ - H1, m nh đất của anh T là m nh đất chính tên chính chủ, đã có bìa đỏ. Phía vợ chồng Đ - H1 cũng có lô đất mặt đường ở cạnh đó, s t nhà H2 - O nên Đ đã đổi m nh đất ở gần nhà H2 - O lấy m nh đất của anh T (lúc đó H2 - O đang giữ). Trong vụ việc này, người gây ra rắc r i chính là nhà H2 - O, còn nhà anh Đ - H1 đổi đất là ngay thẳng và đã xây nhà ở đó từ năm 2002. (BL 64 tập 7)

Như vậy, việc ông Nguyễn Văn T khai không biết vị trí lô 12P1 nên không biết gia đình ông Phạm Quang Đ xây nhà từ năm 2002 là không có căn cứ để chấp nhận.

Đ i với việc lô đất 12P1 có 02 ( hai) giấy chứng nhận mang tên Nguyễn Văn T, đó là s sê ri 772430 s vào sổ 588 cấp ngày 07/5/1994 diện tích 90m2 đất ONT và s 645 s sê ri C 516068 cấp ngày 09/01/1995. Ông T khai không biết gì về Quyền sử dụng đất s 645 s sê ri C 516068 cấp ngày 09/01/1995.

Ông Lê Trọng B khai: Năm 1994 tôi mua lô đất s 12P1 của ông Nguyễn Văn T với gi 15.000.000đ, tôi đã tr hết tiền cho ông T, khi đó ông T chưa được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất này nên hai bên viết giấy mua b n lô đất 12P1 với nhau và th ng nhất khi nào lấy được bìa đỏ thì ông T đưa cho ông B, ông B nhất trí. Đầu năm 1995 ông KH anh trai ông T (l i xe của huyện ủy Đại Từ) đến nhà đưa cho ông B 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s C516068, s vào sổ là 645/QSDĐ ngày 09/01/1995 mang tên Nguyễn Văn T (BL 262 tập 1; BL 34 tập 7…).

Ông Nguyễn Quang KH (anh trai ông T): Ông là l i xe của U ND huyện Đại Từ… ông không biết gì về việc thửa đất của ông T có 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại công văn s 104/CV-TNMT ngày 30/10/2005 của phòng T nguyên và Môi T5 huyện Đại Từ: …GCNQSDĐ ngày 09/01/1995 được cấp căn cứ vào hồ sơ xin cấp đất cho ông T gồm có 01 Quyết định cấp đất làm nhà ở s 258/QĐ-UB ngày 05/5/1994; 01 Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T được U ND xã TH x c nhận đủ điều kiện cấp GCNQSD đất ngày 03/5/1994. (BL 339 tập 2..)

Như vậy, không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông T về việc không biết gì Quyền sử dụng đất s 645 s sê ri C 516068 cấp ngày 09/01/1995.

Đ i với việc ông Phạm Quang Đ sử dụng lô đất 12P1: Năm 1995 ông Đ và anh trai là S có mua lô đất s 07P1 tại xóm PD, xã TH diện tích 90m2 . Kho ng năm 2001 - 2002 ông Trịnh Văn H2 có lô đất s 12P1 có đặt vấn đề đổi thổ cư cho ông, cụ thể ông H2 lấy lô đất s 07P1 của ông, ông lấy lô đất s 12P1. Do ông chưa có tiền tr đủ cho ông Nguyễn Mạnh H3 nên mặc dù đã sang tên cho anh S, nhưng ông H3 vẫn giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H2 làm thủ tục chuyển đổi lô đất 12P1 sang tên ông Nguyễn Mạnh H3 và giao bìa đỏ lô đất s 12P1 cho ông H3. Khi ông tr hết tiền cho ông H3 thì ông H3 đưa bìa đỏ cho ông đi làm thủ tục chuyển từ tên ông H3 sang tên ông. Ngày19/9/2002 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy việc gia đình ông Đ sử dụng lô đất 12P1 là thông qua việc đổi lô 7P1 cho ông Trịnh Văn H2, ông Nguyễn Mạnh H3 và ông Phạm Quang Đ đều x c nhận trực tiếp ký vào hợp đồng chuyển nhượng. Ông H3, ông Đ không yêu cầu gi m định chữ ký do vậy cấp sơ thẩm không trưng cầu gi m định chữ ký trong hợp đồng là phù hợp. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông Đ xây nhà trên đất và sử dụng từ đó đến nay. Do đó, việc ông Phạm Quang Đ sử dụng lô đất 12P1 là ngay tình, có căn cứ ph p luật.

Trong vụ n còn liên quan đến vợ chồng anh Trịnh Văn H2, vợ chồng anh Nguyễn Mạnh H3, vợ chồng anh Nguyễn Văn T1, vợ chồng anh Lê Văn H4 và chị Trần Thị Hoa (vợ anh N). Tuy nhiên ông T không có yêu cầu khởi kiện đ i với những người này; b n T1 họ cũng không có yêu cầu độc lập do vậy cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.

Về gi trị T s n tranh chấp: Gi trị T s n tranh chấp do hai bên nhất trí với kết qu định gi ngày 10/10/2018 (BL 65, 66 tập 7), biên b n định gi ngày 10/10/2018 (tại L 112, 113, 114 tập 6) là 1.890.000.000đ (một tỉ t m trăm chín mươi triệu đồng) tho thuận này không tr i ph p luật, nên Toà n cấp sơ thẩm không tiến hành định gi là phù hợp với quy định của ph p luật.

Đ i với việc anh Đ hiện đang sử dụng nhà xây trên lô đất 12P1 từ năm 2003 đến nay, Hội đồng xét xử thấy: anh Đ sử dụng lô 12P1 là ngay tình đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của ph p luật đất đai, sau đó đã được cấp giấy phép xây dựng nhà nên p dụng Điều 73, Điều 79 Luật đất đai 1993, Điều 106 Luật đất đai 2013, Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô 12P1 mang tên anh Đ.

Đ i với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn T sang ông Nguyễn Mạnh H3, Hội đồng xét xử thấy: Tuy ông T không ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng qua c c T liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ n, lời khai của người liên quan, người làm chứng và phân tích của Hội đồng xét xử tại mục [2], [3], [4] đủ căn cứ để kết luận việc ông T không ký vào hợp đồng không làm thay đổi b n chất của vụ việc.

Đ i với nội dung nguyên đơn cho rằng năm 2003 H4 khai có cùng T1 nhặt được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, sau đó H4 khai lại nên không chấp nhận lời khai của H4. HĐXX thấy rằng: Trước đó H4 khai cùng T1 nhặt được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T c ch cổng nhà ông T kho ng 50m, tuy nhiên sau đó H4 thay đổi lời khai là T1 nói có m nh đất mua của ông chú nhưng chưa sang tên và cùng đến nhà ông Đ T4 chấp vay tiền. Xét thấy nội dung thay đổi lời khai này của H4 là có căn cứ chấp nhận vì phù hợp với lời khai của ông Đ, ông N...

Đ i với việc Toà n cấp sơ thẩm huỷ GCNQSDĐ ngày 07/5/1994 mang tên Nguyễn Văn T, xét thấy: lô đất s 12P1 đã được cấp GCNQSD đất cho ông Phạm Quang Đ, do vậy trên thực tế Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 588/QSDĐ ngày 07/5/1994 này không còn, Toà n cấp sơ thẩm huỷ GCNQSDĐ này là không phù hợp, cần sửa phần này của b n n sơ thẩm đã tuyên.

Như vậy, từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy Toà n cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ n, đ nh gi đầy đủ các T liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ n, để từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T là có căn cứ, phù hợp với thực tế và được chấp nhận. Do đó, cần b c kh ng c o của ông Nguyễn Văn T. Sửa b n n sơ thẩm không liên quan đến phần kh ng c o của ông T.

Lời trình bày của nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn tại phiên toà như đã phân tích ở trên là không có căn cứ chấp nhận.

Chấp nhận lời trình bày của bị đơn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ. Tuy nhiên, cần sửa phần tuyên huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của b n n sơ thẩm

Về n phí: Do yêu cầu khởi kiện và kh ng c o không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Nguyễn Văn T pH nộp n phí dân sự sơ thẩm và n phí dân sự phúc thẩm. Tại phiên toà sơ thẩm ông T không đề nghị và không có T liệu chứng M thuộc T5 hợp miễn n phí nên cấp sơ thẩm buộc ông T nộp toàn bộ n phí sơ thẩm có gi nghạch là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm ông T có đơn và T liệu x c định là đ i tượng được miễn n phí, nên căn cứ vào điểm d kho n 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn toàn bộ n phí dân sự sơ thẩm và n phí dân sự phúc thẩm cho ông T.

Đ i với 200.000đ tiền ông Đ tạm ứng cho yêu cầu ph n t thì ông Đ đã rút yêu cầu ph n t và được Toà n chấp nhận, do vậy cần hoàn tr ông Đ tiền tạm ứng n phí ph n t đã nộp.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng kho n 2 Điều 308, Điều 148 ộ luật t tụng dân sự, Điều 95, 96, 97, 100, kho n 1 Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n, không chấp nhận kh ng c o của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T. Sửa b n n dân sự sơ thẩm s 13/2021/DS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa n nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên.

c yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đ i với ông Phạm Quang Đ về việc ông T đòi ông Đ tr lại quyền sử dụng lô đất s 12P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên.

Ông Đ tiếp tục sử dụng lô đất 12P1 tại xóm PD, xã TH, huyện Đại Từ, tỉnh Th i Nguyên, giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s C 552104 đ i với diện tích đất là 90m2 , s tờ b n đồ là QH, s thửa 12P1, mục đích sử dụng đất là thổ cư, thời hạn sử dụng là lâu dài mang tên ông Phạm Quang Đ do UBND huyện Đại Từ cấp ngày 19/9/2002.

2. Về n phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Miễn toàn bộ n phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn T. Hoàn tr cho ông T 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng n phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ theo biên lai s 007794 ngày 04/9/2009;

Hoàn tr ông Đ 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng n phí cho yêu cầu ph n t tại Chi cục Thi hành n dân sự huyện Đại Từ theo biên lai s 0010900 ngày 17/9/2015.

n n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n./.

Cỡ chữ