vanban.org

Bản án 45/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 05/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vừ A T 02 (hai) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giam là ngày 11/11/2025. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ A T phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:45/2026/HS-ST
Ngày: 05-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hoa Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Mùi và ông Hà Công Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Bá Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Vừ A T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 12 năm 1998, tại xã N, tỉnh Lào Cai; số định danh cá nhân/CCCD: 0150980……; nơi ĐKNK thường trú: Thôn C, xã N, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vừ Páo G và con bà Giàng Thị M; có vợ là Vàng Thị C, và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2025);

Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 104/QĐ-TA ngày 28/10/2022 Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ) với thời gian 16 tháng.

Nhân thân:

Ngày 17/3/2016 bị Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 02/2016/HS-ST, chấp hành xong ngày 18/10/2016 (đã xóa án tích).

Ngày 15/8/2018 bị Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 05/QĐ-TA ngày 15/8/2018. Chấp hành xong ngày 21/5/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/11/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam V - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh L. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Mùa A V, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/10/2022, Vừ A T bị Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cũ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 104/QĐ-TA, thời hạn 16 tháng. Bị cáo T chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái cũ (nay là Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lào Cai). Đến ngày 21/02/2023, Vừ A T bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện. Cơ sở cai nghiện đã ra quyết định truy tìm đối với T.

Trong thời gian bỏ trốn, khoảng 19 giờ 00 phút ngày 12/10/2025, tại khu vực đường dân sinh thuộc thôn N, xã N, tỉnh Lào Cai, Vừ A T mua 01 gói Heroin với giá 50.000 đồng của một người phụ nữ dân tộc M1 (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ). Mua được ma túy, T cất giấu vào túi quần rồi đi về nhà. Khi về đến khu vực góc sân nhà mình, T lấy số Heroin trên cho lên mảnh giấy bạc, dùng bật lửa gas hơ phía dưới để tạo khói và hít sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong, T vứt giấy bạc, mảnh nilon đựng ma túy và bật lửa gas ra khu vực sân vườn.

Ngày 13/10/2025, Công an xã N, tỉnh Lào Cai đưa bị cáo Vừ A T trở lại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Lào Cai. Tại đây, Cơ sở cai nghiện đã tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Vừ A T, kết quả xét nghiệm trong cơ thể Vừ A T có chất ma tuý MOP, AMP, MET. Ngày 16/10/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã thu mẫu nước tiểu của Vừ A T để trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số 2727/KL-KTHS ngày 19/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Tìm thấy M2 trong mẫu chất lỏng màu vàng chứa trong lọ nhựa được xác định là Mẫu nước tiểu của Vừ A T, sinh năm 1998, trú tại: Thôn C, xã N, tỉnh Lào Cai được niêm phong trong phong bì giấy gửi giám định. Morphine có trong sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong cơ thể người.

Cáo trạng số: 68/CT-VKS-KV4 ngày 12 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai, truy tố Vừ A T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự (BLHS);

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Vừ A T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Vừ A T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù; bị cáo thuộc hộ nghèo, đề nghị miễn án phí cho bị cáo và đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nói lời sau cùng xin HĐXX cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất, đề nghị miễn án phí.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Cơ bản nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo thuộc hộ nghèo đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo Vừ A T khai nhận bản thân là người nghiện ma túy. Trước đó, đã bị Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng. Trong thời gian bị quản lý tại cơ sở cai nghiện ma túy, ngày 21/02/2023, bị cáo đã bỏ trốn khỏi cơ sở. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, ngày 12/10/2025, Vừ A T đã mua 01 gói heroin với giá 50.000 đồng và sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Tại Kết luận giám định thể hiện tìm thấy Morphine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Vừ A T gửi đến giám định (Morphine có trong sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người). Vừ A T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý theo pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo Vừ A T đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đang trong thời hạn cai nghiện ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quy định của Đảng và Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù nhận thức rõ tính nguy hiểm và hậu quả pháp lý của hành vi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình thể hiện “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo trước đây đã bị kết án theo Bản án số 02/2016/HS-ST ngày 17/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ) xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, bị cáo đã được xóa án tích theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, nên được coi là không có án tích. Do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; bị cáo có 03 con nhỏ dưới 15 tuổi, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS được xem xét áp dụng cho bị cáo.

Về nhân thân: Năm 2016 bị Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã xóa án tích; Năm 2018 bị Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cũ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong 21/5/2020; Năm 2022 bị Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cũ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang chấp hành ngày 21/02/2023 bị cáo bỏ trốn khỏi Cơ sở cai nghiện ma tuý, cho thấy bị cáo thiếu ý thức chấp hành, rèn luyện là người có nhân thân chưa tốt.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo, để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cai nghiện, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng ngừa tội phạm Ma túy. Về mức hình phạt, HĐXX xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận. HĐXX không chấp nhận đề nghị của người bào chữa đối với bị cáo vì mức hình phạt đề nghị là thấp, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Về vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án: Không đặt ra việc xử lý vật chứng bởi dụng cụ sử dụng ma túy (bật lửa, mảnh giấy bạc, giấy gói nilon) mà bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi sử dụng xong bị cáo đã vứt bỏ, cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về vấn đề khác: Vừ A T khai về nguồn gốc số ma túy có để sử dụng, bị cáo đã mua tại khu vực thuộc thôn N, xã N, tỉnh Lào Cai của một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa đề nghị miễn án phí. HĐXX xét miễn án phí cho bị cáo.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vừ A T 02 (hai) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giam là ngày 11/11/2025.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vừ A T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Vừ A T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ