vanban.org

Bản án 45/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2025. Hình phạt bổ sung: Tịch thu một phần tài sản đối với bị cáo là 01 điện thoại di Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC I - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2026/HS-ST
Ngày 25 - 03 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Bà Nguyễn Thị Hương

2/Ông Trần Đình Đậu

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực

1- Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ tham gia phiên toà:

Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2026/TLST - HS ngày 11 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2026/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn C, sinh ngày 18/4/1987 tại thành phố Việt Trì (nay là phường Thanh Miếu), tỉnh P; nơi thường trú: Tổ 42, khu Tiên Sơn, phường Thanh Miếu, tỉnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; số CCCD: 025087010544; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Quế, sinh năm 1960, con bà Trần Thị Hải, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1989; con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: 03 nhân thân:

+ Bản án HSST số 236 ngày 20/11/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Việt

Trì, tỉnh P xét xử bị cáo Nguyễn Văn C 36 tháng tù về tội Cướp tài sản (khoản 1 Điều 133 BLHS), trị giá tài sản chiếm đoạt 600.000đ. Cường đã thi hành xong án phí ngày 04/02/2008, chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 03/11/2012.

+ Bản án HSST số 07 ngày 30/01/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Văn C 03 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (khoản 1 Điều 194 BLHS). Cường đã chấp hành xong án phí vào ngày 01/4/2013.

+ Bản án HSST 01 ngày 12/01/2017 của Tòa án quân sự khu vực 1 - Quân khu 1 xét xử bị cáo Nguyễn Văn C 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (khoản 2 Điều 194 BLHS). Cường đã chấp hành xong án phí vào ngày 21/02/2017, chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 30/9/2021.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/6/2025, đến ngày 23/6/2025, cơ quan điều tra – Công an tỉnh P đã ra Quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh P.

2. Nguyễn Văn L, sinh ngày 23/8/1993 tại thành phố Việt Trì (nay là phường Thanh Miếu), tỉnh P; nơi thường trú: Tổ 42, khu Tiên Sơn, phường Thanh Miếu, tỉnh P; nơi ở hiện tại: Tổ 15a, khu Đoàn Kết, phường Thanh Miếu, tỉnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; số CCCD: 025093016933; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đắc Cận (đã chết); con bà Nguyễn Thị Lợi, sinh năm: 1966; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/6/2025, đến ngày 23/6/2025, cơ quan điều tra – Công an tỉnh P đã ra Quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh P.

Hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày

01/7/2025, do đó áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo, vẫn áp dụng các quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. ( Các bị cáo có mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vi Đức Trường X , sinh năm 1996

Nơi tạm trú và nơi ở hiện nay: Số nhà 22, ngõ 105, đường Lăng Cẩm, phường

Gia Cẩm( nay là phường Việt Trì), tỉnh P (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21 giờ 00 ngày 19/06/2025, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P làm nhiệm vụ tại hẻm 24/48/1489 đường đại lộ Hùng Vương thuộc khu Đoàn Kết, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh P (nay là khu Đoàn Kết, phường Thanh Miếu, tỉnh P) phát hiện 01 nam thanh niên đang đứng trước cửa một ngôi nhà có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, nam thanh niên tự khai nhận tên là Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, trú tại: tổ 42, khu Tiên Sơn, phường Thanh Miếu, tỉnh P, chỗ ở hiện tại: Tổ 15, khu Đoàn Kết, phường Thanh Miếu, tỉnh P. Đồng thời Long tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma túy đá tàng trữ với mục đích để bán, Long vừa mua được của Nguyễn Văn C, sinh năm 1987, trú tại: Tổ 42, khu Tiên Sơn, phường Thanh Miếu, tỉnh P. Lúc này, Cường đang ở trong phòng khách nhà Long.

Tiến hành kiểm tra Nguyễn Văn C, Cường tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp: 01 túi nilon màu trắng có mép dán viền kẻ màu đỏ bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 02 gói nilon màu trắng bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Cường khai là ma túy đá của Cường tàng trữ nhằm mục đích để bán. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn C, niêm phong, thu giữ vật chứng. Ngoài ra còn tạm giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình), màu đỏ, số imei 352925110002112, kèm thẻ sim số 0776.609.903 (của Long) sử dụng để liên lạc mua bán ma túy;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu redmi màu tím đã qua sử dụng, số imei 866257062404743, kèm 02 thẻ sim số 0862.886.496 và 0965.964.462 (của Cường), sử dụng để liên lạc hàng ngày.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu LG màu xám đã qua sử dụng, số imei 355481111361468 kèm 01 thẻ sim số 0975.262.757 (của Cường), sử dụng để liên lạc mua bán ma túy.

- 01 căn cước mang tên Nguyễn Văn L.

- 01 căn cước mang tên Nguyễn Văn C.

Tiến hành test nhanh nước tiểu của Cường và Long bằng que test. Kết quả Cường và Long dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Ngày 20/06/2025, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn C. Quá trình khám xét chỗ ở của Long đã phát hiện, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, Long khai là của Long để sử dụng ma túy. Khám xét chỗ ở của Cường không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Cùng ngày, cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P đối với số chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn L.

Tại bản kết luận số 706/KL-KTHS ngày 23/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P (thu giữ của Nguyễn Văn C) kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng có mép dán, viền kẻ màu đỏ gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 1,310 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 02 gói nilon gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 0,548 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Hoàn lại 1,570 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 707/KL-KTHS ngày 23/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P (thu giữ của Nguyễn Văn L) kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói nilon gửi đến giám định có khối lượng là: 0,390 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Hoàn lại 0,289 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định .

* Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Bản thân Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn C có mối quan hệ họ hàng, đều là người nghiện ma túy, Long biết Cường có ma túy bán nên đã đặt vấn đề với Cường nếu có ai hỏi mua ma túy, Long sẽ mua ma túy của Cường để bán kiếm lời. Long và Cường thống nhất nếu khách mua với giá 500.000đ thì Cường sẽ cho Long 100.000đ hoặc cho Long ma túy để sử dụng.

Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 3/2025 đến ngày 19/6/2025, Long đã 03 lần mua ma túy của Cường để bán cho Vi Đức Trường Xuân, sinh năm 1996, nơi thường trú: khu An Ninh Thượng, phường Phú Thọ, tỉnh P, cụ thể:

- Lần 1: Vào khoảng 19 giờ một ngày đầu tháng 03/2025, Xuân sử dụng tài khoản zalo “Báo Biển” đăng ký bằng số điện thoại 0848.552.333 gọi cho tài khoản zalo của Long là “Nguyễn Long” đăng ký bằng số điện thoại 0776.609.903 hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá. Long đồng ý bảo Xuân chuyển tiền vào số tài khoản số: 93938889998888 của Long mở tại ngân hàng Techcombank. Do tài khoản của Xuân hết tiền nên đã nhờ một người đi đường chuyển khoản vào tài khoản của Long. Sau khi nhận được tiền, Long gọi zalo cho Cường (tài khoản zalo “Nguyễn Cường” đăng ký bằng số điện thoại 0975.262.757) nói có người hỏi mua 500.000đ tiền ma túy đá. Cường đồng ý rồi bảo Long chuyển tiền vào số tài khoản 64268618041987 của Cường mở tại ngân hàng MB bank. Do tài khoản của Long bị lỗi, không chuyển được nên Long gọi zalo cho Cường bảo Cường mang ma túy đá đến nhà Long, Long đưa tiền mặt, Cường đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, một mình Cường đi đến trước cửa nhà Long và đưa cho Long 01 túi nilon màu trắng có mép dán bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá. Long cầm túi ma túy đá và đưa cho Cường 400.000đ rồi đi vào nhà. Sau đó, Long gọi zalo cho Xuân bảo đến nhà Long lấy ma túy, số ma túy này Xuân đã sử dụng hết cho bản thân.

- Lần 2: Khoảng 20 giờ ngày 12/06/2025, Xuân gọi điện từ tài khoản zalo “Báo Biển” đến tài khoản zalo “Nguyễn Long” của Long hỏi mua 1.000.000đ tiền ma túy đá. Long đồng ý và bảo Xuân chuyển tiền. Xuân chuyển 1.000.000đ (chuyển 2 lần, mỗi lần chuyển 500.000 đồng) từ tài khoản 1013166360 của Xuân mở tại ngân hàng MB bank đến tài khoản ngân hàng Techcombank của Long số tài khoản 93938889998888. Sau khi nhận tiền, Long gọi zalo cho Cường nói có người hỏi mua 1.000.000đ tiền ma túy đá. Cường đồng ý bảo Long chuyển tiền. Long chuyển 1.000.000đ từ tài khoản ngân hàng Techcombank của Long số tài khoản 93938889998888 đến tài khoản ngân hàng MB bank số tài khoản 64268618041987 của Cường. Sau khi nhận được tiền, khoảng 30 phút sau tại trước cửa nhà Long, Cường đưa cho Long 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín 2 đầu (loại ống hút nước) bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá rồi đi về. Một lúc sau, Xuân đến trước cửa nhà Long để lấy ma túy, số ma túy mua được Xuân đã mang về và sử dụng hết cho bản thân.

Sáng hôm sau, Cường đến nhà Long đưa cho Long 01 túi ma túy đá để trả công. Số ma túy đá này, một mình Long đã sử dụng hết vào ngày 18/6/2025.

- Lần 3: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/06/2025, vẫn với cách thức như hai

lần trước, Xuân gọi zalo cho Long hỏi mua 1.000.000đ tiền ma túy đá. Long đồng ý bảo Xuân chuyển tiền vào tài khoản của Long như những lần trước. Xuân chuyển khoản từ tài khoản 1013166360 ngân hàng MB bank của Xuân đến tài khoản 93938889998888 ngân hàng Techcombank của Long 1.100.000đ, trong đó 1.000.000đ là tiền ma túy, 100.000đ là tiền Xuân trả công Long để Long lấy ma túy nhanh.

Sau khi nhận tiền của Xuân, Long gọi zalo cho Cường nói có người hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá. Cường đồng ý và bảo Long chỉ chuyển 800.000đ, còn 200.000đ Cường trả công cho Long. Long chuyển 800.000đ từ tài khoản 93938889998888 ngân hàng Techcombank của Long đến tài khoản tài khoản ngân hàng MB bank số 64268618041987 của Cường. Cường đi từ nhà mang theo 1 túi nilon màu trắng và 03 gói nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày tại phòng khách nhà Long, Cường đưa cho Long 01 gói nilon màu trắng bên trong có ma túy đá. Long cầm gói ma túy đá ra đứng trước cửa đợi Xuân đến lấy, còn Cường vẫn đang ngồi chơi trong phòng khách nhà Long khi Long đang đứng chờ Xuân đến để giao ma túy thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số ma túy Cường bán cho Long và số ma túy Cường bị bắt quả tang ngày 19/6/2025, Cường khai nhận như sau:

Trong thời gian tháng 3/2025, thông qua mối quan hệ xã hội Cường biết có 01 người đàn ông tên Hùng, khoảng 40 tuổi, nhà ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc cũ nay là tỉnh P (Cường không biết chính xác tên, tuổi và địa chỉ của người này) có ma túy bán. Cường đã liên hệ và 03 lần mua ma túy của Hùng về để sử dụng và bán, cụ thể như sau:

- Lần 1: Khoảng tháng 3/2025, Cường gọi điện thoại từ số thuê bao 0975.262.757 của Cường đến số thuê bao 0796.019.314 của Hùng để hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá, Hùng đồng ý và bảo Cường chuyển tiền. Cường chuyển tiền từ tài khoản số 64268618041987 của Cường mở tại ngân hàng MB bank đến tài khoản tài khoản số 0989167007 mang tên “Nguyễn Quốc Huy” mở tại ngân hàng MB bank của Hùng, Cường chuyển 02 lần (01 lần 200.000 đồng, 01 lần 800.000 đồng). Sau khi nhận được tiền, Hùng hẹn Cường đến ngã tư đèn đỏ xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc cũ (nay là tỉnh P) để bán ma túy. Khoảng 20 phút sau Cường đến nơi gặp Hùng, Hùng đưa cho Cường 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá, Cường cầm số ma túy này về chia ra thành các túi nhỏ để sử dụng và bán, trong đó bán cho Long 01 lần vào tháng 3/2025.

- Lần 2: Khoảng 13h00 phút ngày 10/6/2025, vẫn với cách thức, địa điểm như lần 1, Cường mua được của Hùng 3.000.000đ tiền ma túy đá. Số ma túy này, Cường chia ra các túi nhỏ hơn để sử dụng và bán, trong đó bán và trả công cho Long vào ngày 12/6/2025. Lần này, Cường chuyển cho Hùng 3.200.000đ, trong đó 200.000đ là tiền Cường vay Hùng trước đó không liên quan đến hành vi mua bán ma túy.

- Lần 3: Vào ngày 14/6/2025, vẫn với cách thức, địa điểm như lần 1, Cường mua của Hùng 1.500.000đ tiền ma túy đá. Số ma túy mua được, ngày 18/6/2025, Cường lấy một phần sử dụng cho bản thân, số còn lại Cường chia thành 1 túi nilon và 03 gói nhỏ nilon. Ngày 19/6/2025, tại nhà của Long, Cường đã bán cho Long 01 gói ma túy, còn 01 túi nilon và 02 gói nhỏ nilon nhỏ ma túy Cường cất giấu trong người thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn L. Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập và

làm việc với Vi Đức Trường Xuân. Tại cơ quan điều tra, Xuân chỉ thừa nhận 02 lần mua ma túy của Nguyễn Văn L vào đầu tháng 3/2025 và ngày 12/6/2025, đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 19/6/2025 Xuân không thừa nhận. Cụ thể:

Lần 1: Khoảng tháng 3/2025, Xuân mua được của Long 01 gói ma túy với giá 500.000đ như Long đã khai.

Lần 2: Khoảng 20 giờ ngày 12/06/2025, Xuân gọi điện từ tài khoản zalo “Báo Biển” đến tài khoản zalo “Nguyễn Long” của Long hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy đá và trả thêm cho Long 100.000đ để Long nhanh chóng giao ma túy. Long đồng ý và bảo Xuân chuyển tiền. Do tài khoản Xuân hết tiền Xuân chuyển 1.000.000 đồng (chuyển 2 lần, mỗi lần chuyển 500.000 đồng) từ tài khoản 1013166360 của Xuân mở tại ngân hàng MB bank đến tài khoản ngân hàng Techcombank của Long số 93938889998888, nợ lại Long 1.100.000đ. Đến ngày 19/6/2025, Xuân chuyển cho Long 1.100.000 đồng là trả tiền nợ mua ma túy của Long ngày 12/6/2025, không phải là tiền để mua ma túy ngày 19/6/2025 như lời Long khai.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Vi Đức Trường X bằng que test. Kết quả: Xuân dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Xuân khai nhận sau khi mua được ma túy của Long ngày 12/6/2025, Xuân đã sử dụng ở khu vực vắng người qua lại vài ngày sau đó nhưng Xuân không nhớ thời gian địa điểm cụ thể.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn C về người đàn ông tên Hùng 03 lần bán ma túy cho Cường. Do Cường không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Đối với số tài khoản 0989.167.007 Ngân hàng TMCP Quân đội của Hùng, quá trình điều tra xác minh xác định chủ tài khoản là Nguyễn Quốc Huy, sinh năm 1983, trú tại thôn Vọng Sơn, xã Sơn Đông, tỉnh P. Tiến hành xác minh tại Công an xã Sơn Đông xác định Nguyễn Quốc Huy thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Công an xã và gia đình không xác định được Huy đang làm gì, ở đâu. Cơ quan điều tra đã tổ chức cho bị cáo Nguyễn Văn C tiến hành nhận dạng qua ảnh, Cường xác định không có quen biết và không mua bán trái phép ma túy với Nguyễn Quốc Huy. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Quốc Huy.

Đối với số thuê bao 0975.262.757 Cường sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, quá trình xác minh xác định: Chủ thuê bao 0975.262.757 là của Nguyễn Việt Lâm, sinh năm 1993, trú tại tổ 42 khu Tiên Sơn, phường Thanh Miếu, tỉnh P (Lâm là em trai của Nguyễn Văn C). Lâm khai nhận số thuê bao trên Lâm không sử dụng và đã cho Cường từ lâu. Lâm không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn C. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Lâm.

Đối với số thuê bao 0796.019.314 của Hùng, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định: Chủ thuê bao số thuê bao 0796.019.314 là bà Quàng Thị Inh, sinh năm 1980, trú tại bản Xôm, xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên. Tiến hành làm việc với bà Quàng Thị Inh thì Inh khai nhận không sử dụng căn cước công dân hoặc cho ai mượn căn cước công dân để đăng ký số điện thoại 0796.019.314. Bà Inh không biết Nguyễn Văn C là ai, không liên quan đến việc Cường mua bán ma túy. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với bà Quàng Thị Inh.

Đối với số điện thoại 0776.609.903 của Nguyễn Văn L sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, Long khai đây là sim rác đã mua từ trước đó để liên lạc mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, chủ thuê bao số điện thoại 0776.609.903 là của Hoàng Văn Phúc, sinh năm 1998, trú tại xã Cảm Nhân, tỉnh Lào Cai. Xác minh tại Công an xã Cảm Nhân xác định Hoàng Văn Phúc thường xuyên vắng mặt tại địa phương, Công an xã và gia đình không xác định được Phúc làm gì, ở đâu. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác định hành vi của Phúc.

Đối với chiếc điện thoại Vi Đức Trường X sử dụng để liên lạc mua bán ma túy với Long, Xuân đã làm rơi trên đường không xác định được vị trí, nên cơ quan điều tra không thu hồi được.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L, Vi Đức Trường Xuân. Ngày 29/9/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1, Điều 23, Mục 2, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính Phủ, hình thức phạt tiền.

Nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội của các

bị can: Bị cáo Cường, Long đều là người nghiện ma túy, không có công việc ổn định nên bán ma túy để kiếm tiền chi tiêu cá nhân.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

- 01(một) bì giấy niêm phong số 706/KL-KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, hoàn trả 1,570 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn C).

- 01 (một) bì giấy niêm phong số 707/KL-KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, trên bì ghi: Trả lại 0,289 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn L).

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu redmi màu tím đã qua sử dụng, số IMEI: 866257062404743 kèm 02 sim số thuê bao: 0862.886.496 và số 0965.964.462 (của Nguyễn Văn C).

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG màu xám đã qua sử dụng, số IMEI: 355481111361468 kèm 01 sim số thuê bao: 0975.262.757 (của Nguyễn Văn C).

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình), số IMEI: 352925110002112 kèm 01 sim số thuê bao: 0776.609.903 (của Nguyễn Văn L).

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (của Nguyễn Văn L).

- 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn C.

- 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L.

Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh P.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS- KV1 ngày 11/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Văn L. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 19/6/2025.

- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 19/6/2025.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự

đối với Nguyễn Văn C tịch thu 01 điện thoại di động nhãn nhãn hiệu redmi màu tím đã qua sử dụng, số IMEI: 866257062404743 của Cường để sung vào ngân sách nhà nước. Đối với bị cáo Long đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Long, do bị cáo không có tài sản gì có giá trị.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều

106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+01 (một) bì giấy niêm phong số 706/KL-KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, hoàn trả 1,570 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn C).

+ 01 (một) bì giấy niêm phong số 707/KL-KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, trên bì ghi: Trả lại 0,289 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn L). ; 03 sim số thuê bao: 0862.886.496 và số 0965.964.462 và 01 sim số thuê bao: 0975.262.757 của Nguyễn Văn C; 01 sim số thuê bao: 0776.609.903 (của Nguyễn Văn L); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (của Nguyễn Văn L).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn

hiệu LG màu xám đã qua sử dụng, số IMEI: 355481111361468 (của Nguyễn Văn C); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình), số IMEI: 352925110002112 (của Nguyễn Văn L).

-Trả lại: Cho Cường 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn C; Cho Long 01(một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L.

- Truy thu: Buộc bị cáo Cường phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền

2.200.000 đồng; bị cáo Long phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 đồng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án

phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố, các bị

cáo không tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử, xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát điều tra

Công an tỉnh P, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng, kết luận giám định của cơ quan giám định cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2025 đến ngày 19/6/2025, tại nhà ở của Nguyễn Văn L ở tổ 15 khu Đoàn Kết, phường Thanh Miếu, tỉnh P, Nguyễn Văn C đã có hành vi 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn L, sau đó Nguyễn Văn L bán lại cho Vi Đức Trường Xuân, mục đích để bán kiếm lời, cụ thể:

Lần 1: Khoảng thời gian đầu tháng 3/2025, Nguyễn Văn C đã có hành vi bán trái phép 01 túi nilon màu trắng có mép dán bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá với giá 400.000đ cho Nguyễn Văn L. Long đã bán lại cho Vi Đức Trường X với giá 500.000đ, Xuân đã sử dụng hết cho bản thân (không thu giữ, xác định được khối lượng).

Lần 2: Ngày 12/6/2025, Nguyễn Văn C đã có hành vi bán trái phép 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín 2 đầu (loại ống hút nước) bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá cho Nguyễn Văn L với giá 1.000.000đ. Long đã bán lại cho Vi Đức Trường X 1.000.000đ, số ma túy này Xuân đã sử dụng hết cho bản thân. Đến ngày 18/6/2025, Long được Cường trả công bằng 01 gói ma túy để sử dụng, Long đã sử dụng hết cho bản thân. (không thu giữ, xác định được khối lượng).

Lần 3: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 19/06/2025, Nguyễn Văn C đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy màu trắng có khối lượng 0,390 gam Methamphetamine cho Nguyễn Văn L với giá 800.000đ (Long được hưởng lợi 200.000đ) và tàng trữ trái phép 01 túi nilon màu trắng và 02 gói nilon màu trắng có tổng khối lượng ma túy: 1,310 gam + 0,548 gam = 1,858 gam Methamphetamine nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị cơ quan điều tra Công an tỉnh P bắt quả tang. Tổng khối lượng ma túy của Cường phải chịu trách nhiệm hình sự ở lần này là: 0,390 gam + 1,858 gam = 2,248 gam Methamphetamine.

Như vậy, Nguyễn Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng

ma túy là 2,248 gam Methamphetamine và 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn L (trong đó 02 lần không xác định được khối lượng, ngày 19/6/2025 là 0,390 gam Methamphetamine) về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Nguyễn Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng 0,390 gam Methamphetamine và 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vi Đức Trường X (không xác định được khối lượng) về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng,hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần đưa các bị cáo ra xét xử và có hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Đối với Nguyễn Văn C không có tiền án, tiền sự không phải chịu tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.Vì vậy, khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn L chưa có tiền án, tiền sự không phải chịu tình tiết tăng

nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại phiên tòaViện kiểm sát làm rõ về việc bị cáo Long tự khai ra nhiều lần bán trái phép chất ma túy, nên bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận việc bổ sung tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Long. Vì vậy, bị cáo Long được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú được quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung:

Đối với Nguyễn Văn C: Cần tịch thu một phần tài sản đối với bị cáo là 01 điện

thoại di động nhãn nhãn hiệu redmi màu tím đã qua sử dụng, số IMEI: 866257062404743 của bị cáo Cường dùng liên lạc hàng ngày, không liên quan gì đến hàn vi phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn L: Qua điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay bị cáo Long không có tài sản riêng gì có giá trị. Nên cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp:

- Cần tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì giấy niêm phong, dán kín số 706/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, trên bì ghi trả lại 1,570 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn C); 01 (một) bì giấy niêm phong dán kín số 707/KL- KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, trên bì ghi trả lại 0,289 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn L); 03 sim số thuê bao: 0862.886.496 và số 0965.964.462 và số 0975.262.757(của Cường); 01 sim số thuê bao: 0776.609.903 (của Long); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (của Long) là vật chứng không có giá trị sử dụng.

- Đối với 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG màu xám, đã cũ đã qua

sử dụng, số IMEI: 355481111361468 (của Nguyễn Văn C) dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (bị vỡ màn hình) màu đỏ đã cũ đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình), số IMEI: 352925110002112 (của Nguyễn Văn L) dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Cần trả lại cho Cường 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn C

- Cần trả lại cho Long 01(một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2026).

Buộc bị cáo Cường phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000 đồng;

bị cáo Long phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với số thuê bao 0975.262.757 Cường sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, quá trình xác minh xác định: Chủ thuê bao 0975.262.757 là của Nguyễn Việt Lâm, Lâm khai nhận số thuê bao trên Lâm không sử dụng và đã cho Cường từ lâu. Lâm không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn C. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Lâm là phù hợp.

Đối với số thuê bao 0796.019.314 của Hùng, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định: Chủ thuê bao số thuê bao 0796.019.314 là bà Quàng Thị Inh, bà Inh khai nhận không sử dụng căn cước công dân hoặc cho ai mượn căn cước công dân để đăng ký số điện thoại 0796.019.314. Bà Inh không biết Nguyễn Văn C là ai, không liên quan đến việc Cường mua bán ma túy. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với bà Quàng Thị Inh.

Đối với số điện thoại 0776.609.903 của Nguyễn Văn L sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, Long khai đây là sim rác đã mua từ trước đó để liên lạc mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, chủ thuê bao số điện thoại 0776.609.903 là của Hoàng Văn Phúc, sinh năm 1998, trú tại xã Cảm Nhân, tỉnh Lào Cai. Xác minh tại Công an xã Cảm Nhân xác định Hoàng Văn Phúc thường xuyên vắng mặt tại địa phương, Công an xã và gia đình không xác định được Phúc làm gì, ở đâu. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác định hành vi của Phúc.

Đối với chiếc điện thoại Vi Đức Trường X sử dụng để liên lạc mua bán ma túy với Long, Xuân đã làm rơi trên đường không xác định được vị trí, nên cơ quan điều tra không thu hồi được.

Đối với Vi Đức Trường Xuân, Xuân chỉ thừa nhận 02 lần mua ma túy vào tháng

3/2025 và ngày 12/6/2025 của Nguyễn Văn L để sử dụng cho bản thân nhưng Xuân đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng ma túy. Mặt khác, Xuân cũng không thừa nhận hành vi mua ma túy của Nguyễn Văn L ngày 19/6/2025 nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Xuân là phù hợp.

Đối với người người đàn ông tên Hùng theo lời khai của Cường đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Cường. Do Cường không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L, Vi Đức Trường Xuân. Ngày 29/9/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của

pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ là phù hợp

nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 5 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với Nguyễn Văn C); Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với Nguyễn Văn L); điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2025.

Hình phạt bổ sung: Tịch thu một phần tài sản đối với bị cáo là 01 điện thoại di

động nhãn nhãn hiệu redmi màu tím đã qua sử dụng, số IMEI: 866257062404743 của Cường để sung vào ngân sách nhà nước.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 07(bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày19/6/2025.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Long

[2] Về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì giấy niêm phong, dán kín số 706/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, trên bì ghi trả lại 1,570 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn C); 01 (một) bì giấy niêm phong dán kín số 707/KL- KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P, trên bì ghi trả lại 0,289 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn L); 03 sim số thuê bao: 0862.886.496 và số 0965.964.462 và số 0975.262.757(của Cường); 01 sim số thuê bao: 0776.609.903 (của Long); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (của Long).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG màu xám, đã cũ đã qua sử dụng, số IMEI: 355481111361468 (của Nguyễn Văn C).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (bị vỡ màn hình) màu đỏ đã cũ đã qua sử dụng (bị vỡ màn hình), số IMEI: 352925110002112 (của Nguyễn Văn L).

- Trả lại cho Cường 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn C

- Trả lại cho Long 01(một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2026).

Buộc bị cáo Cường phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 2.200.000 đ(Hai

triệu hai trăm nghìn đồng); bị cáo Long phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm nghìn đông).

[3] Về án phí:

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh P xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ