vanban.org

Bản án 45/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang H 01 năm tù (một năm tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam 19/12/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46; Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 xe rùa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H - TCTS - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN
Bản án số: 45/2026/HS-ST
Ngày: 13/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Mạnh Quang Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Kế 2. Ông Lương Đình Hiển

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm - Thư ký Toà án khu vực Hưng Yên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H, sinh năm 1984 tại xã H, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn A và bà Chu Thị T; có vợ là Lê Thị K đã ly hôn và 02 con, lớn sinh năm 2005 nhỏ sinh năm 2008; Tiền án: Ngày 28/11/2024 bị Toà án huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 19/12/2025 tại Phân trại tạm giam Tiên Lữ, Công an tỉnh Hưng Yên“có mặt tại phiên tòa”

Bị hại: Ông Đào Văn S, sinh năm 1971 “có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1977 “ có mặt” Đều có địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Quang H vừa chấp hành xong hình phạt tù về địa phương thấy gia đình ông Đào Văn S là hàng xóm liền kề đang xây nhà mới. Bị cáo phát hiện phần đất nhà mình giáp phần đất nhà ông S bị xúc đi làm biến dạng nên trao đổi thì ông S nói bị cáo không đủ tuổi để nói chuyện. Bức xúc trước sự việc nên khi nhìn thấy những bao xi măng, gạch đá của gia đình ông S để ở rìa đường bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm xi măng, gạch đá để khắc phục phần đất bị xúc đi. Khoảng 21 giờ ngày 16/12/2025, khi đi về khu vực lán nhà mình giáp nhà ông S thấy xi măng, gạch đá để phía trước cửa nhà không ai trông coi, bị cáo mang xe rùa màu xanh dùng tay bê tổng số 09 bao xi măng nhãn hiệu Hoàng Thanh Sơn, mác PCB30, loại 50kg lên xe rùa đẩy vào cất giấu tại lán tôn nhà mình. Tiếp theo, bị cáo bê 08 bao xi măng ném xuống rãnh thoát nước chung giữa phần đất hai nhà. Bị cáo tiếp tục dùng tay mang tổng số 147 viên gạch đá đang để ở trên pallet đứng ở ngoài đường ném vào và để lên xe rùa đẩy vào bên trong phần đất nhà mình rồi khóa cổng đi về nhà ngủ. Ngày 17/12/2025 sau khi phát hiện bị mất xi măng, gạch đá ông S có đơn trình báo công an xã H, tỉnh Hưng Yên giải quyết. Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 17/12/2025 tại khu vực nhà ông S xác định: Hiện trường chung đã bị xáo trộn, được đánh số ký hiệu vị trí từ 1 đến vị trí 5. Vị trí số 1 là khu vực để các bao xi măng xếp chồng lên nhau, nhãn hiệu Hoàng Thanh Sơn mác PCB30 loại 50kg có tổng cộng 33 bao. Vị trí số 2 là khu vực hố ga, kích thước (01x1,2)m trước cửa nhà ông S, bên dưới có 08 bao xi măng trọng lượng 50kg bị thấm nước, đông cứng. Vị trí thứ 3 là khu vực để pallet gạch xếp gọn có tổng cộng 73 viên gạch đá, loại hai lỗ, kích thước mỗi viên (24x14x08)cm. Vị trí thứ 4 nằm trong khuôn viên lán nhà Nguyễn Quang H cổng lán khóa để gạch, xi măng lộn xộn, tổng cộng có 110 viên gạch đá hai lỗ, kích thước mỗi viên (24x14x08)cm và 03 bao xi măng nhãn hiệu Hoàng Thanh Sơn mác PCB30 loại 50kg còn nguyên vẹn, bên cạnh có 01 chiếc xe rùa, sơn màu xanh, loại một bánh. Vị trí thứ 5 nằm trong khuôn viên lán nhà Nguyễn Quang H, gần bờ ao là khu vực để gạch, xi măng lộn xộn, tổng cộng có 37 viên gạch hai lỗ, kích thước mỗi viên (24x14x08)cm và 06 bao xi măng nhãn hiệu Hoàng Thanh Sơn mác PCB30 loại 50kg, tình trạng còn nguyên vẹn. Cơ quan điều tra đã thu giữ, quản lý 01 xe rùa, sơn màu xanh, loại một bánh đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG ngày 17/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 09 bao xi măng nhãn hiệu Hoàng Thanh Sơn mác PCB 30, loại 50kg còn nguyên vẹn, thời điểm ngày 16/12/2025 trị giá 594.000 đồng; 147 viên gạch đá, loại hai lỗ, kích thước (24x14x08)cm thời điểm ngày 16/12/2025 trị giá 308.700 đồng. Tổng cộng là 902.700 đồng. Giá trị thiệt hại 08 bao xi măng nhãn hiệu Hoàng Thanh Sơn mác PCB 30 loại 50kg đã bị ngấm nước đông cứng, thời điểm ngày 16/12/2025 là 528.000 đồng. Đối với hành vi bê 08 bao xi măng của gia đình ông ném xuống rãnh bị ngấm nước đông cứng, hư hỏng hoàn toàn là hành vi hủy hoại tài sản. Do trị giá tài sản bị hủy hoại là 594.000 đồng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, nên Công an xã H đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đối với các bao xi măng và số gạch thu giữ xác định là tài sản hợp pháp của ông S, nên Cơ quan điều tra đã lập biên bản bàn giao lại cho ông Đào Văn S. Đối với 01 xe rùa, sơn màu xanh, loại một bánh đã qua sử dụng được bảo quản tại kho vật chứng thuộc phân Trại tạm giam Tiên Lữ, Công an tỉnh Hưng Yên.

Về trách nhiệm dân sự: Ông S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 92/CT-VKS –KV1 ngày 05/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời gian tính từ ngày bắt tạm giam 19/12/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 xe rùa sơn màu xanh, loại một bánh đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo tự bào chữa: Nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên xác định phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Hành vi trộm cắp chiếc xe máy của bị cáo được chứng minh bằng: Đơn trình báo và lời khai của bị hại ông Đào Văn S; Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 17/12/2025 và bản ảnh kèm theo; Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận giá trị 09 bao xi măng là 594.000 đồng, 147 viên gạch đá lỗ trị giá 308.700 đồng; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và bằng chính lời khai nhận của bị cáo. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 16/12/2025, tại nhà ông Đào Văn S ở thôn T, xã H, tỉnh Hưng Yên, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo Nguyễn Quang H đã trộm cắp của gia đình ông S 09 bao xi măng nhãn hiệu Hoàng Thanh Sơn , mác PCB 30, loại 50kg trị giá 594.000 đồng và 147 viên gạch đá, loại hai lỗ, kích thước (24x14x08)cm trị giá 308.700 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 902.700 đồng. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại có hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi vi phạm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần xét xử nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản vừa chấp hành xong hình phạt trở về nhưng không lấy đó làm bài học tu sửa bản thân. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; gia đình bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích và nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và làm bài học phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên tại phiên tòa là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đối với hành vi bị cáo bê 08 bao xi măng của gia đình ông S ném xuống rãnh bị ngấm nước đông cứng, hư hỏng hoàn toàn là hành vi hủy hoại tài sản. Do trị giá tài sản bị hủy hoại là 594.000 đồng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, nên Công an xã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Ông S nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với 01 xe rùa sơn màu xanh, loại một bánh đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

. Luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực Hưng Yên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điểm s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang H 01 năm tù (một năm tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam 19/12/2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46; Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 xe rùa sơn màu xanh, loại một bánh đã qua sử dụng (Số lượng, đặc điểm của vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 68/QĐ-VKSKV ngày 05/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên)

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự

Án xử công khai có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ