vanban.org

Bản án 45/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025, tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn N 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 28/10/2025). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025, tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2026/HS-ST
Ngày: 03/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cao Thị Hồng Minh

2. Bà Nguyễn Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Thu Nhàn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn N; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Sinh ngày: 02/12/1985, tại tỉnh Điện Biên; Số CCCD: 011085001968, cấp ngày 25/01/2024, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ công an; Nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản T, xã M L, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn M (đã chết) và con bà Quàng Thị Nh; Vợ: Quàng Thị T; Con: có hai con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị Tòa án nào xét xử, chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2025 và sau đó tạm giam cho đến nay - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị Th, sinh năm 1984 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 28/10/2025, tổ công tác Công an xã Mường Lạn làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã M L, tỉnh Điện Biên đã phát hiện Lò Văn N có biểu hiện phạm tội về ma túy, tổ công tác đã yêu cầu Nơ dừng lại để kiểm tra. Kết quả kiểm tra, tổ công tác phát hiện, bắt quả tang trong túi quần bên phải Nơ đang mặc có 02 gói, trong đó có 01 gói bằng nilon màu trắng buộc thắt nút chứa chất bột màu trắng đục nghi là Heroine, 01 gói bằng nilon màu trắng buộc thắt nút chứa 02 viên nén màu hồng nghi là hồng phiến (Methamphetamine). Tổ công tác đã mời người đến chứng kiến và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nơ và niêm phong vật chứng để điều tra làm rõ.

Tại buổi làm việc cũng như quá trình điều tra Lò Văn N khai nhận 02 gói chất nghi là ma túy đã bị thu giữ là Heroine và Methamphetamine. Nguồn gốc số ma tuý này là do vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/10/2025, Lò Văn N một mình đi bộ từ nhà tại bản Ten đến bản L N đều thuộc xã M L để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại bản L N, Lò Văn N gặp một người đàn ông dân tộc Mông, tự giới thiệu tên là Tủa và mua được 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng buộc thắt nút và 03 viên hồng phiến được gói bằng nilon màu trắng với giá 500.000 đồng. Nhận được ma túy, Nơ cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về. Trên đường về Lò Văn N đi vào bụi cây ven đường lấy một ít Heroine và 01 viên hồng phiến đã bị vỡ, nứt ra để sử dụng bằng hình thức đốt, hít qua bật lửa và mảnh giấy bạc. Sử dụng xong, Nơ vứt bật lửa và mảnh giấy bạc tại chỗ, gói lại 02 gói ma túy như ban đầu, cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi tiếp tục đi bộ về nhà. Hồi 11 giờ 10 phút cùng ngày, tại bản Ten, xã Mường Lạn, Lò Văn N bị tổ công tác Công an xã M L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 28/10/2025 đã xác định: Vật chứng thu giữ của Lò Văn N là 02 gói gồm: 01 gói nilon màu trắng buộc thắt nút, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột có khối lượng là 3,08 gam; 01 gói nilon màu trắng buộc thắt nút, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,18 gam; Lấy toàn bộ vật chứng gửi giám định.

Ngày 29/10/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 1071/KL-KTHS ngày 04/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng gửi giám định thu giữ của Lò Văn N có khối lượng 3,08 gam là chất ma tuý: Loại Heroine; Khối lượng 0,18 gam là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Ngày 06/01/2026, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên có Công văn trả lời số 01/CV-KTHS đối với 01 viên ma tuý hồng phiến bị sứt, mẻ không còn nguyên vẹn mà Lò Văn N đã sử dụng: Không đủ cơ sở để xác định khối lượng viên ma tuý hồng phiến (loại ma tuý Methamphetamine).

Tại Bản cáo trạng số: 50/CT-VKSKV1 ngày 12/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên đã truy tố Lò Văn N để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 2,9 gam Heroine và 0,12 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, 02 mảnh nilon màu trắng; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo bà Lường Thị Th có ý kiến: Nhất trí với Cáo trạng của VKSND khu vực 1 - Điện Biên về tội danh, điều luật đã truy tố đối với bị cáo Lò Văn N. Người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cụ thể: Bị cáo có nhân thân tốt chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị tòa án nào xét xử; bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Do vậy, đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Ngoài ra, bố đẻ bị cáo là ông Lò Văn M được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba và mẹ đẻ bị cáo là bà Quàng Thị Nh được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không tranh luận gì với luận tội của Đại diện viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Tại phiên tòa bị cáo khai vào ngày 28/10/2025 bị cáo mua 3,08 gam Heroine và 0,18 gam Methamphetamine với giá tiền 500.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông, tự giới thiệu tên là Tủa tại bản L N, xã M L, tỉnh Điện Biên. Mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng cho bản thân vì nghiện ma tuý. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã lấy một ít Heroine và 01 viên hồng phiến bị vỡ, nứt ra để sử dụng bằng hình thức đốt, hít tại bụi cây ven đường. Sử dụng xong bị cáo cất giấu số ma túy còn lại vào trong túi quần bên phải rồi đi về, trên đường về thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện, bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định: Lò Văn N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 3,08 gam Heroine và 0,18 gam Methamphetamine (tổng cộng là 3,26 gam). Hành vi tàng trữ trái phép ma túy nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra xác định Lò Văn N chưa áp dụng các biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện, bắt buộc hay điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên không đủ căn cứ khởi tố Lò Văn N về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn N, cơ quan CSĐT đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 07/11/2025 bằng hình thức Cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật song vì nhu cầu của bản thân đã cố tình vi phạm. Vì vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ ông Lò Văn M được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba và mẹ đẻ bà Quàng Thị Nh được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt đối với bị cáo:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù, Người bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét thấy đề nghị của Đại điện viện kiểm sát và Người bào chữa là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần chấp nhận, xử phạt bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Người bào chữa.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị (Biên bản xác minh điều kiện, hoàn cảnh kinh tế ngày 19/12/2025 tại bút lục số 99). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Sau giám định hoàn lại 2,9 gam Heroine và 0,12 gam Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 02 mảnh nilon màu trắng không có giá trị cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên toà bị cáo đã có đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025, tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn N 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 28/10/2025).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 2,9 gam Heroine và 0,12 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 02 mảnh nilon màu trắng không có giá trị sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Điện Biên).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/02/2026).

Cỡ chữ