- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” giữa chị Lê Thị M và anh Mạc Thiệu S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M đối với anh Mạc Thiệu S về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02-02-2026 V/v: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Châu Thị Kim Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Văn Ánh;
2. Ông Lê Văn Thêm.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Liêm, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 205/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị M, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
- Bị đơn: anh Mạc Thiệu S, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
Cùng địa chỉ: thôn T, xã Q, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2025, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn - chị Lê Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh S tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Nam (nay là Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố Đà Nẵng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 27/5/2019. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị xin được ly hôn với anh S.
Về con chung: chị và anh S có 02 con chung tên Mạc Kế N, sinh ngày 02/7/2020 và Mạc Kế T, sinh ngày 25/5/2024. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu N, T và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Mạc Thiệu S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh và chị M tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Nam (nay là Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố Đà Nẵng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 27/5/2019. Quá trình chung sống giữa vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì nghiêm trọng nên chị M xin ly hôn anh không đồng ý, anh yêu cầu Tòa án giải quyết đoàn tụ.
Về con chung: anh và chị M có 02 con chung tên Mạc Kế N, sinh ngày 02/7/2020 và Mạc Kế T, sinh ngày 25/5/2024. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn anh thống nhất giao hai cháu N, T cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và nuôi con của chị Lê Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Lê Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn - anh Mạc Thiệu S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Lê Thị M có quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Mạc Thiệu S, địa chỉ: thôn T, xã Q, thành phố Đà Nẵng. Chị M khởi kiện xin ly hôn với anh S và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: chị M và anh S tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Nam (nay là Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố Đà Nẵng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 27/5/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận. Theo chị M, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả nhau; anh S cho rằng vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì nghiêm trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị M cương quyết xin ly hôn, còn anh S không tham gia các phiên tòa. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị M, anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân, chị M và anh S có 02 con chung tên là Mạc Kế N, sinh ngày 02/7/2020 và Mạc Kế T, sinh ngày 25/5/2024. Khi ly hôn, chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu N, T; anh S thống nhất giao hai con cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét điều kiện nuôi con của các bên thì thấy: tại biên bản hòa giải ngày 01/12/2025 các bên đều thừa nhận chị M buôn bán và dạy thêm tại nhà mỗi tháng thu nhập khoảng 6.000.000 đồng, anh S làm nghề sửa xe máy thu nhập mỗi tháng 6.000.000 đồng. Như vậy, chị M và anh S đều có công việc và thu nhập ổn định để nuôi hai con. Tuy nhiên, hai cháu N, T còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ và anh S cũng thống nhất giao hai con cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao hai cháu N, T cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở phù hợp với quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: chị Lê Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M đối với anh Mạc Thiệu S về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị M và anh Mạc Thiệu S.
2. Về con chung: giao cháu Mạc Kế N, sinh ngày 02/7/2020 và cháu Mạc Kế T, sinh ngày 25/5/2024 cho chị Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị M không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Lê Thị M phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà chị M đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003782 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND khu vực 6 - Đà Nẵng; - Phòng THADS khu vực 6 - Đà Nẵng; - UBND xã Quế Sơn, thành phố Đà Nẵng; (Giấy CNKH số 27 ngày 27/5/2019 của UBND xã P cũ); - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Thị Kim Phượng |