- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn, nuôi con chung giữa chị Lò Thị K và anh Lò Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị K ly hôn với anh Lò Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2026/HNGĐ-ST. Ngày: 30 - 01 - 2026. V/v: Ly hôn, con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lường Thị Thảo;
Ông Phạm Ngọc Thiệp.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án khu vực 2 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 45/2026/QĐST – HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 50/2026/QĐST – HNGĐ, ngày 22 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị K; sinh ngày 18/07/1994; nơi cư trú: Bản Tam, xã CL, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lò Văn T; sinh ngày: 27/12/1989; nơi cư trú: Bản Tam, xã CL, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/11/2025, Bản tự khai, nguyên đơn chị Lò Thị K trình bày:
Về tình cảm: Chị và anh Lò Văn T kết hôn với nhau từ ngày 20/11/2014 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã CN, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã CL, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống. Chị và anh Lò Văn T đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay đã sống ly thân được hơn 04 năm, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn T.
Về con chung: Chị và anh Lò Văn T có 02 con chung: Cháu Lò Thị O, sinh ngày 10/02/2013, cháu Lò Thế T, sinh ngày 01/12/2015.
Nay ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai Lò Thị Oanh, cháu Lò Thế T, cho đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Chị không yêu cầu anh Lò Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Cam đoan không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lò Văn T, anh Lò Văn T không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Do vậy không có lời khai của anh Lò Văn T đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị K.
Biên bản xác minh ngày 04/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La về tình trạng hôn nhân của chị Lò Thị K và anh Lò Văn T: Chị Lò Thị K và anh Lò Văn T lấy nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND CN, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã CL, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và hiện nay đã sống ly thân từ lâu. Chị Lò Thị K và anh Lò Văn T có hai con, hiện đang sống cùng chị Lò Thị K, thỉnh thoảng về thăm bố và ông bà nội. Tài sản chung, nợ chung chính quyền không nắm.
Ý kiến của các Cháu Lò Thị O, sinh ngày 10/02/2013, cháu Lò Thế T, sinh ngày 01/12/2015 con chung của chị Lò Thị K, anh Lò Văn T: Nguyện vọng của các cháu đều được muốn ở cùng chị Lò Thị K (mẹ đẻ).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn chị Lò Thị K nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác. Bị đơn anh Lò Văn T vắng mặt không có lý do.
Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 20/12/2025 nguyên đơn chị Lò Thị K trình bày do bận công việc và ở xa nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, chị Lò Thị K đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của chị Lò Thị K về việc giải quyết vụ án: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn T; về con chung: Chị Lò Thị K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai Cháu Lò Thị O và cháu Lò Thế T, cho đến khi các cháu trưởng thành, không yêu cầu anh Lò Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Nợ chung: Cam đoan không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị K đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lò Văn T đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lò Thị K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị K được ly hôn với anh Lò Văn T.
Về con chung: Giao Cháu Lò Thị O, sinh ngày 10/02/2013, cháu Lò Thế T, sinh ngày 01/12/2015 cho chị Lò Thị K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả cho đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Anh Lò Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: Cam đoan không có.
Về án phí: Chị Lò Thị K được miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Lò Thị K khởi kiện ly hôn với bị đơn anh Lò Văn T có địa chỉ tại xã CL, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lò Thị K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh Lò Văn T vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị K, bị đơn anh Lò Văn T.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị K và anh Lò Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã CN, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã CL, tỉnh Sơn La) vào ngày 20/11/2014, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, chị Lò Thị K và anh Lò Văn T đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện nay chị Lò Thị K và anh Lò Văn T đã sống ly thân được 04 năm, không ai còn quan tâm đến ai. Anh Lò Văn T đã được Toà án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai và hoà giải, anh Lò Văn T không có mặt, do vậy Toà án không có lời khai và không tiến hành hoà giải được, điều này chính tỏ anh Lò Văn T không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa Chị Lò Thị K và anh Lò Văn T tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Lò Thị K được ly hôn với anh Lò Văn T. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Chị Lò Thị K và anh Lò Văn T có 02 con chung: Cháu Lò Thị O, sinh ngày 10/02/2013, cháu Lò Thế T, sinh ngày 01/12/2015. Chị Lò Thị K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu cho đến khi các cháu trưởng thành.
HĐXX xét thấy: Các Cháu Lò Thị O, Lò Thế Toàn đều đang sống cùng chị Lò Thị K cuộc sống của cháu đã ổn định. Các Cháu Lò Thị O, Lò Thế Toàn đều có nguyện vọng muốn sống cùng chị Lò Thị K (mẹ đẻ). Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ việc anh Lò Văn T không có mặt tại Toà án để trình bày lời khai, trình bày ý kiến về việc nuôi con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị K, giao Cháu Lò Thị O, sinh ngày 10/02/2013, cháu Lò Thế T, sinh ngày 01/12/2015 cho chị Lò Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Lò Thị K không yêu cầu anh Lò Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung, cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn anh Lò Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
. Về nợ chung: Cam đoan không có.
. Về án phí: Chị Lò Thị K là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Miễn nộp toàn bộ án phí dân sư sơ thẩm cho chị Lò Thị K. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị K ly hôn với anh Lò Văn T.
2. Về con chung: Chị Lò Thị K, anh Lò Văn T có 02 con chung: Cháu Lò Thị O, sinh ngày 10/02/2013, cháu Lò Thế T, sinh ngày 01/12/2015.
Giao Cháu Lò Thị O, sinh ngày 10/02/2013, cháu Lò Thế T, sinh ngày 01/12/2015 cho chị Lò Thị K được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng: Anh Lò Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về nợ chung: Không có.
6. Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị K.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lò Thị K; bị đơn anh Lò Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2 – Sơn La( 2 bản ); - UBND xã CL, tỉnh Sơn La, - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |