vanban.org

Bản án 45/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị P được ly hôn anh Vũ Văn H. Về con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn chị P và anh H"
  • Tòa quyết gì? X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2026/HNGĐ-ST
Ngày 05 - 3 - 2026
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Nga

Bà Trương Thị An

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hồng Phương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2026/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị P, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn P, xã A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn là chị Đặng Thị Phương trình B:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A (nay là UBND xã A), thành phố Hải Phòng vào ngày 16/02/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn và ít mâu thuẫn. Từ đầu năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm lối sống, anh H thường xuyên chơi bời dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn. Mặc dù đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh H không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện mà ngày càng căng thẳng hơn. Từ tháng 10/2023, chị P về nhà bố mẹ đẻ ở xã A, thành phố Hải Phòng. Chị và anh H đã sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Đặng Thị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn H.

Về con chung: Chị P và anh Vũ Văn H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Đặng Thị P không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ hai, anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị P.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng: Quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử về cơ bản đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị P; cho chị Đặng Thị P được ly hôn anh Vũ Văn H. Về con chung: Không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; Về tài sản chung, công nợ: Chị Đặng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Chị Đặng Thị P phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Đây là vụ án về ly hôn giữa chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H. Bị đơn anh Vũ Văn H có nơi cư trú và hiện đang sinh sống tại thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà sơ thẩm: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho các đương sự, nhưng anh Vũ Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Chị Đặng Thi P1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, xã A (nay là UBND xã A), thành phố Hải Phòng vào ngày 16/02/2022. Như vậy, theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H hòa thuận hạnh phúc được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm lối sống, anh H thường xuyên chơi bời dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn. Từ tháng 10/2023, chị Đặng Thị P về nhà bố mẹ đẻ ở xã A, thành phố Hải Phòng sinh sống, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Tòa án triệu tập hòa giải nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị P xin ly hôn với anh Vũ Văn H.

Về con chung: Chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H không có con chung. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Đặng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị P được ly hôn anh Vũ Văn H.

2. Về con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, chị Đặng Thị P đã nộp theo Biên lai số 31 ngày 31/12/2025 tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đặng Thị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị P và anh Vũ Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ