vanban.org

Bản án 45/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" của ông Nguyễn Thanh N đối với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H.

Buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H phải trả cho ông Nguyễn Thanh N số tiền 9.660.000đ (chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng); Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thành N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" của ông Nguyễn Thanh N đối với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H.
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2026/DS - ST
Ngày 08 tháng 5 năm 2026
V/v “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Hồng Quang

2. Bà Huỳnh Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2026/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2026 về việc "Tranh chấp Hợp đồng mua bán hành hoá yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2026/QĐXXST- DS ngày 06/4/2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2026/QĐST- DS ngày 23/4/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N - sinh năm 1998; Căn cước công dân số xxxxxxxxx… do Cục QLHCVTTXH cấp ngày 11/02/2025. Địa chỉ: 72 Bình Thái 4, phường Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H; Địa chỉ trụ sở: phường Liên C, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Thị H

- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiểm Tổng giám đốc. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn nội dung khởi kiện, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N thể hiện:

Ông Nguyễn Thanh N buôn bán thiết bị điện nước, vật liệu trang trí. Vào năm 2024 Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H (do bà Hồ Thị H) liên hệ ông Nguyễn Thanh N mua trang thiết bị điện nước, vật liệu trang trí để Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H thi công lắp đặt cho công trình mà công ty Tuyết Hồng đang thực hiện xây dựng. Công ty Tuyết H thông qua người đại diện pháp luật là bà Hồ Thị H sử dụng Zalo số điện thoại xxxxxxx.x.. (tên tài khoản: H Ox) gửi yêu cầu mua hàng. Ông Nguyễn Thanh N đã thực hiện báo giá và các nên sẽ chốt lịch giao hàng thông qua Zalo số điện thoại xxxxxxx… (tên tài khoản: N). Theo thoả thuận giữa hai bên, ông Nguyễn Thanh N sẽ thực hiện giao hàng theo đơn đặt hàng của Công ty Tuyết H và Công ty Tuyết H sẽ thanh toán ngay sau khi nhận được hàng.

Cụ thể vào các ngày 07, 11 và 15 tháng 5 năm 2024, Công ty Tuyết H gửi đơn đặt hàng, ông Nguyễn Thanh N đã báo giá, giao hàng cho Công ty Tuyết H với tổng giá trị là 34.660.000 đồng, danh mục mua hàng hoá mua bán cụ thể như sau: Số

Hàng hoá

Số

Đơn giá

Thành tiền TT

lượng

(đồng)

(đồng) 1 Ngày 07/5/2024

14.300.000đ 1.1 Lavabo đứng 303

02

500.000

1.000.000 1.2 Bồn cầu 8845 xước nhẹ

4

1.200.000

4.800.000 1.3 Bàn đá tràn viền kèm gương

2

1.850.000

3.700.000

cảm ứng 2 chế độ đèn led và

sấy khô 1.4 Sen cây 390HQ

4

900.000

3.600.000 1.5 Vòi 2411

4

300.000

1.200.000 2

Ngày 11/5/2024

11.560.000đ 2.1 Lavabo đứng416A

1

550.000

550.000 2.2 Bồn cầu 8845 mẫu

1

855.000

855.000 2.3 Bồn cầu 8845 xước nhẹ

3

1.110.000

3.330.000 2.4 Bàn đá tràn viền kèm gương

3

1.245.000

3.735.000

cảm ứng 2 chế độ đèn led và

sấy khô 3 Ngày 15/5/2024

8.800.000 3.1 Bồn cầu 8845 hàng mới

2

1.35.000

2.700.000 3.2 Bàn đá 2 tầng AK11-80 mở

2

1.850.000

3.700.000

tràn viền kèm gương cảm

ứng 2 chế độ đèn led và sấy

khô 3.3 Sen cây 390 HQ

2

900.000

1.800.000 3.4 Vòi 2481

300.000

600.000

Tổng cộng (1+2+3)

34.660.000

Ông Nguyễn Thanh N đã hoàn tất việc giao hàng của cả 03 đơn hàng nêu trên và được đại diện Công ty Tuyết H xác nhận bằng tin nhắn qua Zalo (có hình ảnh kèm theo). Sau khi giao hàng ông Nguyễn Thanh N đã yêu cầu Công ty Tuyết H thực hiện thanh toán, nhưng người đại diện là bà H đã nhiều lần hứa hẹn thanh toán từ sau khi nhận hàng cho đến nay vấn không thanh toán đầy đủ cho ông Nguyễn Thanh N.

Theo đơn khởi kiện thì ông Nguyễn Thanh N yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tuyết H phải thanh toán số tiền còn nợ là 34.660.000đ (ba mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tuy nhiên trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tuyết H đã thanh toán cho ông Nguyễn Thanh N được số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng), vì vậy hiện tại Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tuyết H còn nợ ông Nguyễn Thanh N số tiền 9.660.000đ (chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Do đó ông Nguyễn Thanh N rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền mà bị đơn đã trả là 25.000.000 đồng.

Tại phiên toà ông Nguyễn Thanh N yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tuyết H phải thanh toán dứt điểm số tiền còn nợ là 9.660.000đ (chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

- Đối với bị đơn Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án cho Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tuyết H, để biết việc nguyên đơn gửi đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền còn nợ đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H, nhưng Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N khởi kiện bị đơn Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H yêu cầu thanh toán tiền mua bán hàng hoá và bị đơn có địa chỉ cư trú Lô 28 thôn Quan Nam 5, phường L C, thành phố Đà Nẵng.

Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vì vậy Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

- Tòa án đã triệu tập hợp lệ Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H vẫn vắng mặt. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H.

- Tại phiên toà nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ là 34.660.000 đồng, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã trả được cho nguyên đơn số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Do đó, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 25.000.000đ mà bị đơn đã trả.

Căn cứ khoàn 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H phải trả số tiền 25.000.000đ mà nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu.

Về nội dung vụ án:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung tại đơn trình bày và tranh tụng tại phiên tòa thể hiện:

Ông Nguyễn Thanh N buôn bán thiết bị điện nước, vật liệu trang trí. Vào năm 2024 Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H (do bà Hồ Thị H) liên hệ ông Nguyễn Thanh N mua trang thiết bị điện nước, vật liệu trang trí để Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H thi công lắp đặt cho công trình mà công ty Tuyết H đang thực hiện xây dựng. Công ty Tuyết H thông qua người đại diện pháp luật là bà Hồ Thị H sử dụng Zalo số điện thoại xxxxxxx… (tên tài khoản: H Ox) gửi yêu cầu mua hàng. Ông Nguyễn Thanh N đã thực hiện báo giá và các nên sẽ chốt lịch giao hàng thông qua Zalo số điện thoại xxxxxxx… (tài khoản: N). Theo thoả thuận giữa hai bên, ông Nguyễn Thanh N sẽ thực hiện giao hàng theo đơn đặt hàng của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H sẽ thanh toán ngay sau khi nhận được hàng.

Cụ thể vào các ngày 07, 11 và 15 tháng 5 năm 2024, ông Nguyễn Thanh N đã giao đầy đủ hàng hoà là vật tư như yêu cầu của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H với tổng giá trị là 34.660.000 đồng và đã được đại diện pháp luật của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H sử dụng Zalo số điện thoại xxxxxxx… (tên tài khoản: H Ox) xác nhận.

Theo trình bày của nguyên đơn thì sau khi giao hàng đầy đủ như đơn đặt hàng cho Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H nhưng Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H không thực hiện thanh toán tiền hàng cho ông Nguyễn Thanh N. Chỉ sau khi nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết thì Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H mới thanh toán 04 lần được số tiền 25.000.000đ (hai mươi làm triệu đồng), còn lại 9.660.000đ (chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) đến nay vẫn chưa thanh toán.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H biết việc khởi kiện của nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tuyết H đã không đến Tòa án tham gia các phiên hòa giải, không có văn bản phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp chứng cứ để chứng minh đã trả một phần hay toàn bộ số tiền mua hàng cho nguyên đơn.

Như vậy, căn cứ vào giao dịch mua bán hàng hoá thông qua ứng dụng Zalo số điện thoại xxxxxxx… (tên tài khoản: H Ox - đại diện pháp luật là bà Hồ Thị H) và Zalo số điện thoại xxxxxxx… (tên tài khoản: N) của ông Nguyễn Thanh N thì Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H phải trả cho ông Nguyễn Thanh Nsố tiền nợ là 9.660.000 (chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại các Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự;

Ông Nguyễn Thanh N không yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Vì chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Buộc bị đơn Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựngTuyết H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với số tiền mà Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hoá yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền" của ông Nguyễn Thanh N đối với Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H.

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 351, Điều 430, Điều 440 khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự;

Tuyên xử:

1. Buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H phải trả cho ông Nguyễn Thanh N số tiền 9.660.000đ (chín triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng);

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với phần yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H phải số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N.

3. Án phí Dân dự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Buộc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Tuyết H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 483.000đ (bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng).

- Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh N số tiền tạm ứng án phí 866.000đ (tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000303 ngày 12/01/2026 tại Thi hành án dân sự, thành phố Đà Nẵng.

4. Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ