vanban.org

Bản án 45/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2025. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST
Ngày: 05/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chất

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được

Bà Trần Thị Hải Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị N - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn T, sinh năm: 2000 (Tên gọi khác: Không), tại: Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh T (nay là xã Đ, tỉnh Thanh Hóa); CCCD số 038200003xxx cấp ngày 14/02/2025; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Ngô Văn T, sinh năm 1977 và bà Lê Thị N, sinh năm 1979; Bị cáo có vợ là Vũ Thị Hải Y, sinh năm: 2005; Bị cáo có 01 em ruột, sinh năm2001;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2025 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố 12, phường C, thành phố T, Bình Dương (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh), (có đơn xin vắng mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1979; Địa chỉ: khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh), (có đơn xin vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Kiều N, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn Đông Phú, xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng), (có đơn xin vắng mặt).

3. Bà Lê Thị Bé Thúy, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp Trường Khương A, xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ (nay là xã Trường Long, thành phố Cần Thơ), (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ cuối tháng 02/2025, Ngô Văn T kiếm tiền trên mạng internet thông qua việc bán tài khoản phụ (tài khoản con, có thể đặt tên tài khoản theo ý muốn) của tài khoản ngân hàng Quân Đội (MBbank) cho các đối tượng Tê sử dụng vào mục đích nhận tiền lừa đảo. Tuy nhiên đến đầu tháng 3/2025, Ngân hàng MBbank đã hủy bỏ chức năng tạo tài khoản phụ, T chuyển qua sử dụng tài khoản Ví MoMo tạo tài khoản ngân hàng BIDV “Ảo” có thể đặt tên theo ý muốn, được đăng ký tạo mã QR code “Cửa hàng” thông qua dịch vụ “Đối tác MoMo” trên ứng dụng Ví điện tử MoMo. T sử dụng tài khoản Zalo “Ngô Mạnh P” kết nối với một số người để đặt mua các tài khoản MoMo với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mỗi tài khoản, sau đó sử dụng tài khoản “YUUMI UP” trên mạng xã hội Telegram tìm người có nhu cầu Tê (Khách) các tài khoản ngân hàng BIDV đặt tên theo ý muốn. Sau khi tìm được “Khách” (không rõ nhân thân lai lịch), xác định tên cần đặt thì T truy cập tài khoản MoMo mua được tạo tài khoản “Ảo”, mã QR code gửi cho “Khách” để sử dụng vào mục đích lừa đảo. T thỏa Tận với “Khách” khi tài khoản có tiền chuyển vào thì T sẽ được hưởng 15% đến 20% số tiền và trừ lại số tiền “lợi nhuận” T được hưởng sau đó chuyển số tiền nhận được đến tài khoản ngân hàng theo yêu cầu của “Khách”. Số tiền được hưởng T sẽ sử dụng cá nhân hoặc dùng để trả tiền cho những người bán tài khoản MoMo.

Ngày 23/3/2025, T mua tài khoản ví MoMo số 0357343xxx tên Le Thi Be T với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) từ người bán không rõ nhân thân lai lịch sử dụng tài khoản Zalo “N” và đã thanh toán tiền mua. Sau khi có “Khách” (không rõ nhân thân lai lịch) cần sử dụng tài khoản tên Huynh Thi Hong H thì T đã tạo tài khoản “Ảo” số MMP2508219380033xxx tên Huynh Thi Hong H để gửi cho người Tê. Cùng ngày, bà Nguyễn Thị Hồng H sử dụng tài khoản Facebook “H H” xem thông tin giải trí, xem bài viết của bạn bè và tương tác với các tài khoản khác. Đến chiều cùng ngày tài khoản Facebook của bà H liên tiếp nhận được nhiều cuộc gọi nhỡ từ tài khoản Facebook người lạ tên “S S”. Sau đó, trong tin nhắn tài khoản “S S” gửi cho bà H một đường link, bà H tò mò bấm vào xem thì bị mất quyền truy cập vào tài khoản Facbook “Huỳnh H”. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bà Nguyễn Thị Xuân T nhận được tin nhắn trên mạng xã hội Facebook từ tài khoản tên “Huỳnh H” vay số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) để giải quyết công việc gia đình và yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng BIDV số MMP2508219380033xxx tên Huynh Thi Hong Hanh. Do tin tưởng, bà T đã sử dụng ứng dụng ngân hàng BIDV thực hiện 02 giao dịch chuyển tiền từ tài khoản số 6503222xxx của bà T đến tài khoản BIDV số MMP2508219380033xxx tên Huynh Thi Hong H số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng).

Sau đó, “Khách” thông báo cho T tài khoản Huynh Thi Hong H đã nhận số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) và yêu cầu T chuyển cho người tên T khoản số tiền 14.400.000đồng qua 05 (năm) giao dịch:

- Tài khoản Techcombank số 1165898xxx tên Le Ngoc Y số tiền 481.000đ (bốn trăm tám mươi mốt nghìn đồng);

- Tài khoản Ngân hàng MSB số 7817042xxx tên Ta Hong N số tiền 490.000đ (bốn trăm chín mươi nghìn đồng);

- Tài khoản Ngân hàng ACB số 44258xxx tên Bui Van H số tiền 480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng);

- Tài khoản Ngân hàng VPbank số 8312255xxx tên Ta Thi K số tiền 13.001.000đ (mười ba triệu không trăm lẻ một nghìn đồng).

- Còn lại số tiền 3.525.000đ (ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tương đương 20% số tiền chiếm đoạt thì T được hưởng lợi. Đến ngày 25/3/2025, T dùng số tiền này thanh toán tiền mua tài khoản ví Momo đến tài khoản Ngân hàng An Bình (ABBank) số 1721009926xxx tên Nguyễn Kiều N nhận số tiền 3.525.000đ (ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng), chủ tài khoản Nguyễn Kiều N.

Sau đó, tài khoản “Huynh H” tiếp tục nhắn tin hỏi vay thêm số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) thì bà T nghi ngờ bị lừa nên đã gọi điện thoại cho bà Nguyễn Thị Hồng H để xác nhận thì được bà H cho biết tài khoản Facebook “Huỳnh H” đã bị người khác chiếm quyền sử dụng (Hack) rồi nhắn tin vay tiền của nhiều người. Biết mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên ngày 24/03/2025, bà T đến Công an tỉnh Bình Phước trình báo vụ việc.

Căn cứ thông tin do Công ty cổ phần dịch vụ Di Động Trực Tuyến cung cấp xác định Ví điện tử số 0357343xxx có thông tin đăng ký: Lê Thị Bé T, liên kết với tài khoản Ngân hàng Nam Á số 0357343xxx tên Lê Thị Bé T, tài khoản ngân hàng này được đăng ký qua hình thức tạo tài khoản Online, không phải do Lê Thị Bé T trực tiếp đăng ký tài khoản ngân hàng Nam Á và từ trước đến nay không sử dụng tài khoản trên, không biết ai là người hiện tại quản lý.

Đối với Nguyễn Kiều N, từ cuối tháng 02/2025, N sử dụng tài khoản Facebook “Ty N” tham gia các hội nhóm Zalo để mua bán thông tin tài khoản Ví điện tử MoMo từ những người T gom (Sale) rồi bán lại cho Ngô Văn T sử dụng tài khoản Zalo “Ngô Mạnh P” và tài khoản Telegram tên “Y”. N thực hiện việc mua, bán để hưởng tiền chênh lệch từ 50.000đ đến 70.000đ mỗi tài khoản. Ngày 25/03/2025, N có nhận số tiền 3.525.000đ (ba triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) từ tài khoản Ví MoMo tên Le Thi Be T là do được “P” chuyển thanh toán tiền mua tài khoản MoMo của ngày 25/03/2025.

Ngày 23/6/2025, Phòng an ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phúc đáp công văn số 199/CSHS ngày 18/6/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước (cũ), kết quả:

- Không khôi phục được tin nhắn đã bị xóa của tài khoản Telegram tên Y, ID: @Proxy8xxx.

- Không xác định được tài khoản Telegram tên Y, ID: @Proxy8xxx đã liên lạc với tài khoản nào về việc Tê tài khoản ví điện tử MoMo và các nội dung liên quan đến hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Không xác định được tài khoản tài khoản Telegram tên Y, ID: @Proxy8xxx của Ngô Văn T có thực hiện hành vi chiếm đoạt của ai khác ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị Xuân T hay không.

Đối với 04 (bốn) tài khoản ngân hàng nhận tiền chiếm đoạt chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định Ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau để xác minh thông tin chủ tài khoản và các nội dung liên quan đến việc nhận tiền. Đến nay Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai vẫn chưa nhận được kết quả trả lời ủy thác.

Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKSKV9 ngày 12/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên giao: 01 (một) máy vi tính không nhãn hiệu (máy lắp ráp linh kiện), kèm màn hình, mã Device ID: B1F299E2-8760-4A72-S6C5-A590F36BA0CF, mã Product ID: 00331-10000-00001-AA671; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A31, Model: SM-A315G/DS, số IMEI 1: 354565113794402, IMEI 2: 354565113794400 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy S9, Model: SM-G960U, số IMEI: 354822090169797 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục quản lý để phục vụ cho công tác điều tra.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 12/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo T đã nảy sinh ý định mua tài khoản Ví MoMo tạo tài khoản ngân hàng BIDV “Ảo” sau đó bán cho người có nhu cầu (Khách) nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác. Ngày 23/3/2025, bị cáo T mua tài khoản ví MoMo số 0357343xxx tên Le Thi Be T sau đó tạo tài khoản “Ảo” số MMP2508219380033xxx tên Huynh Thi Hong H cung cấp cho “Khách” (không rõ nhân thân lai lịch) nhằm lừa đảo chiếm đoạt số tiền 18.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Xuân T trên không gian mạng, hưởng lợi số tiền 3.525.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Bị cáo là người đã thành niên, bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc mua tài khoản Ví MoMo tạo tài khoản ngân hàng BIDV “Ảo” sau đó bán cho người có nhu cầu (Khách) nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt số tiền của người khác là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại là khách thể được pháp luật bảo vệ, vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4]. Bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại; Bị cáo có bà nội là người có công cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6]. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, do đó Hội đồng xét xử thấy cần quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và cũng là bài học cho chính bị cáo.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét cần thiết phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng là phù hợp.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại bà Nguyễn Thị Xuân T và người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Đối Nguyễn Kiều N và những người bán tài khoản Ví MoMo, quá trình điều tra không có tài liệu chứng cứ xác định thông tin tài khoản đã mua, bán. Đồng thời, Ví điện tử không phải tài khoản ngân hàng, không phải tài khoản thanh toán, pháp luật không có quy định về việc cấm mua bán Ví điện tử do đó không đề cập xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chủ Ví điện tử Momo số 0357343xxx có thông tin đăng ký: Lê Thị Bé T, liên kết với tài khoản Ngân hàng Nam Á số 0357343xxx tên Lê Thị Bé T, quá trình điều tra xác định bà T không biết và cũng không sử dụng tài khoản này nên không đặt vấn đề xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với việc xác định đối tượng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài khoản Facebook “Huỳnh H”, Tê tài khoản Ví điện tử MoMo để lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) của bà Nguyễn Thị Xuân T đến nay vẫn chưa xác định được đối tượng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án để tiếp tục theo dõi xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chủ tài khoản Zalo “N” là tài khoản bán Ví điện tử Momo số 0357343xxx cho Ngô Văn T, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Công ty cổ phần Vinagame (VNG) xác định số điện thoại đăng ký, thông tin cá nhân của tài khoản này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) máy vi tính không nhãn hiệu (máy lắp ráp linh kiện), kèm màn hình, mã Device ID: B1F299E2-8760-4A72-S6C5-A590F36BA0CF, mã Product ID: 00331-10000-00001-AA671; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A31, Model: SM-A315G/DS, số IMEI 1: 354565113794402, IMEI 2: 354565113794400 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy S9, Model: SM-G960U, số IMEI: 354822090169797, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định số B999/QĐ-CSHS ngày 15/7/2025 về việc tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án để tiếp tục theo dõi xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Đồng Nai tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2025.

Căn cứ khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Ngô Văn T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên giao 01 (một) máy vi tính không nhãn hiệu (máy lắp ráp linh kiện), kèm màn hình, mã Device ID: B1F299E2-8760-4A72-S6C5-A590F36BA0CF, mã Product ID: 00331-10000-00001-AA671; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy A31, Model: SM-A315G/DS, số IMEI 1: 354565113794402, IMEI 2: 354565113794400 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Glaxy S9, Model: SM-G960U, số IMEI: 354822090169797 cho Cơ quan Cảnh sat điều tra công an tỉnh Đồng Nai quản lý để phục vụ cho công tác điều tra.

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ