- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH T PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày: 19 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, T PHỐ HỒ CHÍ MINH
T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thanh Bình
2/ Bà Trần Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Diệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, T phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, T phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Mai Trường An – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, T phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 423/2024/TLST - HS ngày 27/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST – HS ngày 20/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Văn T, (tên gọi khác: Kem) sinh năm 1982, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: Không nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Dán keo xe; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Hồ Văn M; họ và tên mẹ: Trần Thị C; hoàn cảnh gia đình: Tại phiên tòa bị cáo khai sống chung như vợ chồng với bà Trần Thị Ngọc G, có 01 người con sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024 (có mặt).
Bị hại: Bà Châu Thị Bích T, sinh năm 1992 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Nhà không số đường liên ấp 2,3,4 xã V, huyện Bình Chánh, T phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Quỳnh T, thị trấn B, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 45 phút ngày 16/8/2024, Hồ Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, biển số 47P4 - 3718 lưu thông trên đường Vĩnh Lộc ra đường Trần Văn Giàu, huyện Bình Chánh. Khi T điều khiển xe mô tô đến ngã tư Bà Lát trước nhà số 1A245, ấp 3, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh. Trong lúc dừng chờ đèn tín hiệu giao thông thì T phát hiện bà Châu Thị Bích T1 điều khiển xe mô tô biển số 59V1 - 271.71 chở theo con trai phía sau trẻ Trần Tuấn Anh đang dừng đèn đỏ kế bên trái, cùng chiều. T quan sát thấy trên tay bà T1 đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Tecno Pop 5 Lte nên T dùng tay phải giật điện thoại của bà T1 rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. T điều khiển xe mô tô tẩu thoát được khoảng 15 mét, khi đến giữa giao lộ đường Vĩnh Lộc – Trần Văn Giàu thì bị té ngã. Lúc này, bà T1 tri hô “Cướp, cướp…” thì ông Nguyễn Minh T2 là Trật tự Viên thuộc Lực lượng Thanh niên xung phong T phố Hồ Chí Minh đang đứng điều tiết giao thông gần đó cùng người dân bắt giữ được T cùng vật chứng đưa về trụ sở Công an xã Phạm Văn Hai lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Công an xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, xử lý.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 2820/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Tecno Pop 5 Lite trị giá 1.500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Hồ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Tecno Pop 5 Lite, số Imei 1: 353922699766646, số Imei 2: 353922699766653; 01 xe mô tô hiệu Yamaha màu bạc, biển số 47P4-3718, số máy: 23B1021389, số khung: RLCM23B10AY021389; 01 áo sơ mi trắng dài tay; 01 quần Jean màu xanh; 01 nón kết màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen cam.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT – VKS - BC ngày 27 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, T phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội "Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Hồ Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử lý vật chứng theo quy định.
Bị hại bà Châu Thị Bích T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nội dung đơn thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Hồ Văn T tại tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 79 – 84, 94 - 07); phù hợp với lời khai của bị hại bà Châu Thị Bích T1 (BL: 101 – 105); phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như Biên bản lấy lời khai, Bản ảnh hiện trường; thực nghiệm điều tra, thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản, cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 07 giờ 45 phút ngày 16/8/2024, bị cáo Hồ Văn T có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Tecno Pop 5 Lite trị giá 1.500.000 đồng của bà Châu Thị Bích Trang, tại trước địa chỉ 1A245, ấp 3, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, T phố Hồ Chí Minh (theo kết quả định giá tài sản số 2820/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh) rồi nhanh chóng tẩu thoát thì bị quần chúng nhân dân cùng bị hại truy đuổi bắt giữ được bị cáo.
Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hồ Văn T đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[3] Tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, lười biếng lao động nên đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Bị cáo dùng xe mô tô làm phương tiện phạm tội là dùng thủ đoạn nguy hiểm thuộc trường hợp định khung hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử bị cáo và khi lượng hình có mức án nghiêm.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản có giá trị không lớn, kịp thời thu hồi giao trả cho bị hại, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[6] Xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với điện thoại di động 01 điện thoại di động hiệu Tecno Pop 5 Lite, số Imei 1: 353922699766646, số Imei 2: 353922699766653, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm thủ tục giao trả cho bà Châu Thị Bích T1, theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu được lập vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 15/11/2024, Hội đồng xét xử ghi nhận (BL: 113).
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha màu bạc, biển số 47P4 - 3718, số máy: 23B1021389, số khung: RLCM23B10AY021389. Qua xác minh, xe mô tô trên do bà Nguyễn Thị Kinh T đăng ký chủ sở hữu, bà T khai nhận vào năm 2015, bà đã bán xe lại cho một người không rõ lai lịch, khi bán xe mô tô trên không làm giấy tờ mua bán xe. Bị cáo khai mua xe mô tô trên vào năm 2020 của một người không rõ lai lịch với giá 2.000.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm thủ tục đăng báo tìm chủ sở hữu xe nhưng chưa quá thời hạn luật định (quá 06 tháng), Hội đồng xét xử tuyên giao xe này cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tiếp tục làm thủ tục đăng báo và xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với 01 áo sơ mi trắng dài tay; 01 quần Jean màu xanh; 01 nón kết màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen cam, đây là quần áo và đồ vật cá nhân của bị cáo, bị cáo từ chối nhận lại, xét các đồ vật trên không còn giá trị sẽ tuyên tịch thu tiêu hủy theo điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về dân sự: Bị hại bà Châu Thị Bích T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào điểm a Khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi trắng dài tay; 01 quần Jean màu xanh; 01 nón kết màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đen cam.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, T phố Hồ Chí Minh 01 xe mô tô hiệu Yamaha màu bạc, biển số 47P4 - 3718, số máy: 23B1021389, số khung: RLCM23B10AY021389 để làm thủ tục đăng báo tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định pháp luật.
(Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao nhận tang tài vật được lập ngày 27/12/2024 giữa Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh và Công an huyện Bình Chánh).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND H.BC; - CA H. BC; - Chi cục THADS H.BC; - Sở Tư pháp, TP. HCM; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Sơn |