- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh L - Trần Văn Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh L
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Sơn
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Công Chức - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 80/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm: 1989
Địa chỉ: Tổ 6, ấp 6, xã Tóc Tiên, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Văn Q, sinh năm: 1987
Địa chỉ: Tổ 6, ấp 6, xã Tóc Tiên, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con đề ngày 26 tháng 02 năm 2025 và trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày:
Bà và ông Trần Văn Q bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2013, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành (nay là phường Mỹ Xuân, thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 22/11/2013. Thời gian đầu chung sống thì bà và ông Q chung sống hạnh phúc, không có gì xảy ra. Tới năm 2018 thì vợ chồng bà có những mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, ông Q thường xuyên gây ra nợ nần. Bà khuyên bảo nhiều lần nhưng ông Q không thay đổi. Nay xét thấy, bà không còn tình cảm gì với ông Q, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không còn ý nghĩa nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Q để bà ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông Q chung sống có một con chung là trẻ Trần Nguyễn Gia L, sinh ngày 16/10/2015. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ L, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bà bận công việc, bà đã trình bày lời khai và đã cung cấp tài liệu chứng cứ đầy đủ cho Tòa án nên bà đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt bà, bà cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về việc vắng mặt của mình.
Bị đơn ông Trần Văn Q vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ phát biểu ý kiến như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Trần Văn Q
Về con chung; Giao một con chung là trẻ Trần Nguyễn Gia L, sinh ngày 16/10/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Trần Văn Q
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về án phí: Bà L chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Thị Thanh L khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Trần Văn Q. Đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Trần Văn Q trực tiếp ký nhận các văn bản của Tòa án do đó có cơ sở xác định ông Q đang cư trú tại tổ 6, ấp 6, xã Tóc Tiên, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Trần Văn Q nhưng ông Q vẫn không đến Tòa tham gia xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà L và ông Q là phù hợp với quy định tại điểm Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của bà L cho ông Q nhưng ông Q không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự các buổi hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Trần Văn Q sống chung có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành (nay là phường Mỹ Xuân, thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông Q là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thanh L xác định bà và ông Trần Văn Q mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà yêu cầu được ly hôn với ông Q để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong vụ án này, bà L khai bà và ông Q phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Ông Q thường xuyên gây ra nợ nần, bà đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông Q vẫn không thay đổi. Mặt khác ông Q không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà L và ông Q không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông Q.
Về con chung: Bà L xác nhận bà và ông Q có 01 con chung là trẻ Trần Nguyễn Gia L, sinh ngày 16/10/2015. Sau khi ly hôn, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ L. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Q nhưng ông Q vẫn không đến Tòa để thể hiện ý kiến của ông về vấn đề con chung mà vắng mặt không lý do.
Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ thì trẻ L có nguyện vọng được sống với bà L.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt, tránh việc xáo trộn trong sinh hoạt hiện tại của trẻ L, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ L cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung, đây là sự tự nguyện của bà L và không trái luật nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Q.
Về tài sản chung: Bà L xác nhận bà và ông Q không có tài sản chung. Ông Q vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung giữa ông và bà L nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung giữa bà L với ông Q trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
Về nợ chung: Bà L xác nhận bà và ông Q không có nợ chung. Ông Q vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề nợ chung giữa ông và bà L nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề nợ chung giữa bà L với ông Q trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh L chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh L
Cho bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Trần Văn Q
Giấy chứng nhận kết hôn số 229, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Xuân, huyện Tân Thành (nay là phường Mỹ Xuân, thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 22/11/2013 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao 01 con chung là trẻ Trần Nguyễn Gia L, sinh ngày 16/10/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Q.
Ông Q có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh L chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001029 ngày 27/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà L đã nộp đủ án phí.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6.
Về quyền kháng cáo: bà Nguyễn Thị Thanh L, ông Trần Văn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh BRVT; - VKSND tỉnh BRVT; - VKSND thành phố Phú Mỹ; - Chi cục THADS thành phố Phú Mỹ; - Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuân, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Lưu VP, hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy |