- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyen thi phuong m - nguyen the t"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyen Thi Phuong M đối với bị đơn ông Nguyen The T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-4-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh;
2. Ông Phan Chí Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyen Thi Phuong M, sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: Khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; tạm trú: Số A, khu phố B, phường T, thành phố TA, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyen The T, sinh năm 1999; địa chỉ: Căn X, nhà ở xã hội Y, số Z, đường D1, Tổ 1, Khu phố 7, phường PH, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyen Thi Phuong M trình bày:
Bà Nguyen Thi Phuong M và ông Nguyen The T kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phú Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, ông T không tôn trọng bà M dẫn đến hôn nhân không có hạnh phúc. Bà M và ông T đã ly thân từ năm 2024, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông Nguyen The T. Bà M và ông T có 01 con chung tên Nguyen Ngoc Khanh V, sinh ngày 06/9/2022, cháu V đang sống cùng với bà M nên bà M yêu cầu được nuôi dưỡng cháu V. Bà M đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyen The T có đơn xin xét xử vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và đồng ý ly hôn với bà Nguyen Thi Phuong M.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Nguyen Thi Phuong M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Nguyen The T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng. Do nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyen Thi Phuong M có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyen The T nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại các điều 51, 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyen The T có nơi cư trú tại phường PH, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyen Thi Phuong M và bị đơn ông Nguyen The T vắng mặt tại phiên toà và có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyen Thi Phuong M và ông Nguyen The T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại UBND phường Phú Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 173, ngày 11/11/2022 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại các điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét thấy, bà Nguyen Thi Phuong M và ông Nguyen The T thống nhất vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hiện nay không còn tình cảm và đã ly thân không thể hàn gắn được nên thống nhất ly hôn. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên ghi nhận. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyen Thi Phuong M về việc xin ly hôn với ông Nguyen The T.
Về con chung: Bà Nguyen Thi Phuong M và ông Nguyen The T có 01 con chung tên Nguyen Ngoc Khanh V, sinh ngày 06/9/2022. Xét thấy, hiện nay cháu V đang sống cùng với bà M và còn nhỏ nên giao cháu V cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyen Thi Phuong M không yêu cầu ông Nguyen The T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét thấy, quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Nguyen Thi Phuong M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); ông Nguyen The T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các điều 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyen Thi Phuong M đối với bị đơn ông Nguyen The T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyen Thi Phuong M được ly hôn với ông Nguyen The T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyen Ngoc Khanh V, sinh ngày 06/9/2022 cho bà Nguyen Thi Phuong M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyen Thi Phuong M không yêu cầu ông Nguyen The T cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung chưa thành niên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyen Thi Phuong M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009161 ngày 13/02/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - CCTHADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND phường Phú Hoà; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nga |