vanban.org

Bản án 45/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Kim H.

Chị Trần Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. 2/ Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2025
“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình
ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Phương Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Kiều

Bà Bùi Thị Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 09/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/4/2025, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 361/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim H, sinh năm 1988;

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980;

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã Hòa An, TP. Cao Lãnh, Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Kim H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh vào ngày 16/5/2018. Trong quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm nên hay cãi vã, vợ chồng nhiều lần hòa giải nhưng không thể hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, sống chung không hạnh phúc, tình cảm không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T không gửi văn bản ý kiến, không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kim H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T; Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn. Bị đơn Nguyễn Văn T có địa chỉ tại xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn T nhưng anh T không có mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh (số đăng ký 39, ngày 16/5/2018), nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với anh T.

Chị H trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn do anh T không quan tâm, lo lắng cho gia đình, thường chơi bời, nhậu nhẹt, vợ chồng hay tranh cãi, chị H nhắc nhở thì anh T anh T có hành vi bạo lực với chị H. Nay, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo như lời trình bày của chị H thì anh T không quan tâm, yêu thương, chăm sóc gia đình..... Vợ chồng thường mâu thuẫn tranh cãi với nhau nhiều lần, không hàn gắn được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, việc anh chị tiếp tục chung sống không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích của hôn nhân để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc không đạt được, nên căn cứ theo Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Chị H trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.

Án phí: Chị H phải chịu 300.000 tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Kim H.

- Chị Trần Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2/ Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4/ Về án phí: Chị Trần Thị Kim H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003424 ngày 16/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp. Chị Trần Thị Kim H đã nộp đủ tiền án phí.

Anh T không phải chịu án phí.

Chị Trần Thị Kim H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ