vanban.org

Bản án 45/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị S.

Cụ thể tuyên: Buộc bà Lê Thị Thanh T và ông Lữ Minh V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị S số tiền nợ hụi là 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng. Ghi nhận bà S không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Trần Thị S tranh chấp hợp đồng góp hụi với bà Lê Thị Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MCB
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/DS-ST
Ngày: 06-5-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MCB - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Vui

Ông Phan Thành Phước

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế-Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 33/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 682025/QĐXXST-DS ngày 24/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QĐST-DS ngày 16/4/2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1975

Địa chỉ: ấp GT, xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre (có mặt);

Đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Văn V, sinh năm 1961

Địa chỉ: 74/2 ấp PM, xã PT, huyện CT, tỉnh Bến Tre (có mặt)

-Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1988;

Địa chỉ: ấp TX, xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lữ Minh V, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Bà Trương Thị L, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp TX, xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện,bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị S, ông Hồ Văn V trình bày:

Bà Trần Thị S có chơi hụi 01 dây hụi do gia đình bà Lê Thị Thanh T, ông Lữ Minh V, bà Trương Thị L tổ chức hụi ở địa phương.

Dây hụi 2.000.000đồng khui ngày 05/8/2023 âm lịch (mãn ngày 05/8/2025), dây hụi có 25 phần, bà S chơi 02 phần, bà đóng được 11 lần với tổng số tiền 44.000.000đồng, đến ngày 05/6/2024 thì bà T tuyên bố bể hụi.

Ngày 15/8/2024, bà T tự lập giấy tay nhận nợ hụi, trừ đi tiền đầu thảo 2.000.000đồng, còn nợ bà 42.000.000đồng và cam kết hàng tháng trả cho bà 2.000.000đồng vào ngày 15 cho đến khi trả hết số tiền hụi nhưng bà T không thực hiện. Tuy nhiên, bà chỉ yêu cầu bà T trả 40.000.000đồng

Quá trình chợi hụi, hàng tháng bà góp hụi đưa tiền trực tiếp cho bà T. Nhiều lần chồng bà T chở bà T đi góp hụi tại nhà của bà. Bà yêu cầu bà T liên đới với chồng là ông V trả nợ; đồng thời yêu cầu má chồng bà T là bà L phải có trách nhiệm liên đới trả nợ hụi này vì khi bà T đi vắng không có nhà thì bà L đem viết, giấy và lon để các hụi viên đến bỏ hụi hàng tháng tại nhà. Bà L là người kiểm tra thăm của hụi viên xem ai hốt hụi. Bà có đóng hụi 01 lần cho bà L, do bà T không có nhà.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T cùng với ông V, bà L liên đới trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ hụi là 42.000.000đồng. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải bà S chỉ yêu cầu bà T, ông V và bà L liên đới trách nhiệm trả số tiền nợ hụi 40.000.000đồng.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu bà L liên đới trách nhiệm với bà T, ông V trả tiền nợ hụi.

* Theo biên bản hòa giải, bản tự khai bị đơn bà Lê Thị Thanh T trình bày:

Bà T thống nhất với lời trình bày nguyên đơn, bà thừa nhận còn nợ tiền hụi của bà S tổng cộng là 40.000.000đồng, bà T đồng ý trả cho bà S số tiền nợ hụi 40.000.000đồng. Chồng bà và mẹ chồng bà không biết gì việc bà chơi hụi, mục đích bà chơi hụi để lấy tiền sử dụng riêng không có lo gì cho gia đình cũng như lo cho chồng con. Mẹ chồng và chị chồng bà lo nhà cửa, ăn uống và lo 02 con bà đi học. Chồng bà có khi chở bà đi chợ thì đi ngang nhà bà S nên ghé thu tiền hụi, chồng bà không bao giờ thu tiền hụi của ai. Khi bà không có nhà thì bà có mượn bà L đem viết, giấy, lon ra để cho các hụi viên đến nhà viết thăm hụi và khui hụi. Do đó, chồng bà và mẹ chồng bà không có trách nhiệm liên đới trả tiền hụi cho bà S, một mình bà trả tiền hụi cho bà S.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về quan điểm giải quyết: Ghi nhận tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu bà L liên đới trách nhiệm cùng bà T, ông V trả tiền nợ hụi cho bà S. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà T và ông V có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi là 40.000.000đồng. Ghi nhận nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị S yêu cầu bị đơn bà Lê Thị Thanh T, ông Lữ Minh V liên đới trách nhiệm trả tiền nợ hụi. Do bà T, ông V có địa chỉ cư trú tại ấp TX, xã NPT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre; Do đó, căn cứ các Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng góp hụi ” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên hòa giải cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lữ Minh V, bà Trương Thị L nhiều lần nhưng ông V, bà L vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể hòa giải được. Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng bà T, ông V, bà L vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện MCB tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T, ông V, bà L là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Bà Trần Thị S có chơi hụi 01 dây hụi do gia đình bà Lê Thị Thanh T, ông Lữ Minh V, bà Trương Thị L tổ chức hụi ở địa phương. Dây hụi 2.000.000đồng khui ngày 05/8/2023 âm lịch (mãn ngày 05/8/2025), dây hụi có 25 phần, bà S chơi 02 phần, bà đóng được 11 lần với tổng số tiền 44.000.000đồng, đến ngày 05/6/2024 thì bà T tuyên bố bể hụi. Ngày 15/8/2024, bà T tự lập giấy tay nhận nợ hụi, trừ đi tiền đầu thảo 2.000.000đồng, còn nợ bà 42.000.000đồng và cam kết hàng tháng trả cho bà 2.000.000đồng nhưng bà T không thực hiện. Nay, bà S yêu cầu bà T, ông V, bà L liên đới trách nhiệm trả 40.000.000đồng tiền nợ hụi. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu bà L liên đới trách nhiệm trả tiền nợ hụi với bà T, ông V nên Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu bà L liên đới trách nhiệm với bà T, ông V trả tiền nợ hụi.

Bị đơn bà T thừa nhận bà S có chơi 02 dây hụi do bà làm chủ, bà thống nhất hiện nay còn nợ bà S tổng cộng số tiền hụi 40.000.000đồng, bà T đồng ý trả cho bà S số tiền hụi 40.000.000đồng. Bà T không đồng ý ông V, bà L có trách nhiệm liên đới trả tiền hụi cho bà S với lý do: bà T làm chủ hụi, ông V chồng bà và bà L mẹ chồng bà không biết gì việc bà chơi hụi, mục đích bà chơi hụi để lấy tiền sử dụng riêng không có lo gì cho chồng con và gia đình. Căn cứ theo quy định Điều 15 và Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP của Chính Phủ qui định về quyền của thành viên và nghĩa vụ của chủ hụi thì bà T phải trả lại phần tiền hụi mà bà S đã góp là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu ông V liên đới trách nhiệm với bà T trả tiền hụi:

Bà Lê Thị Thanh T với ông Lữ Minh V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhuận Phú Tân, huyện MCB, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/3/2007 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông V, bà T có 02 người con còn nhỏ đang đi học, ông V không có nghề nghiệp gì khác ngoài làm vườn ở gia đình. Bà T và ông V là lao động chính trong gia đình, nhưng bà T cho rằng mục đích bà chơi hụi để sử dụng riêng không sử dụng chăm lo cho gia đình, tất cả chi phí sinh hoạt, tiền điện, tiền nước, tiền học hành hàng tháng trong gia đình và 02 con bà là do mẹ chồng bà lo hết là không phù hợp;

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bà T phủ nhận mục đích bà chơi hụi có chăm lo cho gia đình bà, tuy nhiên căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định về “Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện” thì vợ, chồng phải có nghĩa vụ chung. Vì vậy, ông V phải có trách nhiệm liên đới với bà T trả số tiền nợ hụi cho bà S là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T và ông V có trách nhiệm liên đới trả cho bà S số tiền nợ hụi là 40.000.000đồng.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà T, ông V có trách nhiệm liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 288, 471 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 26, 35, 147 và Điều 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;

- Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị S.

Cụ thể tuyên:

1. Buộc bà Lê Thị Thanh T và ông Lữ Minh V có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị S số tiền nợ hụi là 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng. Ghi nhận bà S không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền chưa được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S về việc yêu cầu bà Trương Thị L liên đới trách nhiệm với bà Lê Thị Thanh T, ông Lữ Minh V trả số tiền nợ hụi cho bà Trần Thị S.

3. Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Lê Thị Thanh T và ông Lữ Minh V có trách nhiệm liên đới phải chịu là 2.000.000(Hai triệu) đồng.

Chi cục thi hành án dân sự huyện MCB có trách nhiệm hòan lại cho bà Trần Thị S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.050.000(Một triệu không trăm năm mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0006763 ngày 13/02/2025.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ