vanban.org

Bản án 45/2025/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm T.

Buộc anh Trần H bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và tài sản cho anh Phạm T tổng số tiền là 90.412.968 đồng (Chín mươi triệu, bốn trăm mười hai nghìn, chín trăm sáu mươi tám đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hàn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm T.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/DS-ST
Ngày: 09-6-2025.
“V/v tranh chấp bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do sức khỏe
và tài sản bị xâm phạm”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phát Triển;

Ông Nguyễn Chí Công.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Vân An là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp - Bà Lê Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2025/TLST-DS, ngày 05 tháng 3 năm 2025, “V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe và tài sản bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐST-DS, ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm T, sinh năm: 1978, địa chỉ: TT Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Trần H, sinh năm: 1990; địa chỉ: Số, xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

(Các đương sự điều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn Phạm T trình bày:

Vào tháng 4/2024 tôi có điều khiển xe biển số 66L1-523.67 chở theo vợ trên đường lưu thông chỗ vòng xoay Rẽ Quạt thì bị anh H điều khiển xe không đúng phần đường có nồng độ cồn va chạm với tôi dẫn tới tai nạn giao thông, sau đó tôi được đưa đi bệnh viện Lai Vung qua Sa Đéc rồi chuyển lên bệnh viện Chợ Rẩy, trong quá trình điều trị thì anh H có bồi thường cho tôi được 20.000.000đ đến nay không bồi thường gì thêm nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Trần H bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và tài sản gồm: tiền xe cấp cứu từ Sa Đéc đến BV Chợ Rẫy là 2.400.000đ; tiền xe xuất viện từ TP HCM về Lai Vung là 2.300.000đ; tiền xe đi tái khám 2.000.000đ; tiền viện phí ở BV Chợ Rẫy 520.000đ; tiền chụp CT ngày 09/4/2024 360.000đ; tiền viện phí BV 1A 3.471.995đ, toa thuốc ngày 03/5/2024 2.529.060đ, tiền viện phí BV Sa Đéc 2.324.527đ, tiền viện phí BV Lai Vung 163.948đ, chụp phim cone 500.000đ; tiền tái khám BV Chợ Rẫy ngày 13/9/2024 532.000đ; ngày 14/9/2024 423.338đ; ngày 14/10/2024 1.959.100đ; tiền ăn uống 300.000đ/người x 12 ngày = 1.200.000đ; tiền mất việc làm 120 ngày x 400.000đ = 48.000.000đ; tiền xe đi tái khám ở TP HCM 4 chuyến x 720.000đ = 2.880.000đ; tiền thuê xe 7 chỗ tái khám ở TP HCM 01 chuyến = 1.850.000đ, tiền trồng trăng 03 cái 10.500.000đ; tiền sửa xe 12.459.000đ và tiền tổn thất tinh thần 06 tháng cơ bản là 14.040.000đ. Tổng cộng là 110.412.968đ trừ 20.000.000đ mà anh H đã đưa số còn lại là 90.412.968đ.

* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn Trần H trình bày:

Tôi thừa nhận sự việc xẩy ra tai nạn này hoàn toàn là do lỗi của tôi gây ra cho anh T tôi đồng ý bồi thường tất cả các khoản trên gồm: tiền xe cấp cứu từ Sa Đéc đến BV Chợ Rẫy là 2.400.000đ; tiền xe xuất viện từ TP HCM về Lai Vung là 2.300.000đ; tiền xe đi tái khám 2.000.000đ; tiền viện phí ở BV Chợ Rẫy 520.000đ; tiền chụp CT ngày 09/4/2024 360.000đ; tiền viện phí BV 1A 3.471.995đ, toa thuốc ngày 03/5/2024 2.529.060đ, tiền viện phí BV Sa Đéc 2.324.527đ, tiền viện phí BV Lai Vung 163.948đ, chụp phim cone 500.000đ; tiền tái khám BV Chợ Rẫy ngày 13/9/2024 532.000đ; ngày 14/9/2024 423.338đ; ngày 14/10/2024 1.959.100đ; tiền ăn uống 300.000đ/người x 12 ngày = 1.200.000đ; tiền mất việc làm 120 ngày x 400.000đ = 48.000.000đ; tiền xe đi tái khám ở TP HCM 4 chuyến x 720.000đ = 2.880.000đ; tiền thuê xe 7 chỗ tái khám ở TP HCM 01 chuyến = 1.850.000đ và tiền tổn thất tinh thần 06 tháng cơ bản là 14.040.000đ nhưng tôi không đồng ý với phần tiền sửa xe và tiền trồng răng tôi chỉ đồng ý bồi thường tiền sửa xe là 7.000.000đ, tiền trồng răng 6.000.000đ vì anh T đi sửa xe không báo cho tôi biết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung phát biểu quan điểm:

- Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng.

- Về phần nội dung: Về đường lối giải quyết vụ án, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, là có căn cứ, phù hợp thực tế, đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Phạm T khởi kiện yêu cầu anh Trần H bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản đây là vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe và tài sản bị xâm phạm. Bị đơn cư trú tại xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Anh Phạm T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Trần H bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và tài sản gồm: tiền xe cấp cứu từ Sa Đéc đến BV Chợ Rẫy là 2.400.000đ; tiền xe xuất viện từ TP HCM về Lai Vung là 2.300.000đ; tiền xe đi tái khám 2.000.000đ; tiền viện phí ở BV Chợ Rẫy 520.000đ; tiền chụp CT ngày 09/4/2024 360.000đ; tiền viện phí BV 1A 3.471.995đ, toa thuốc ngày 03/5/2024 2.529.060đ, tiền viện phí BV Sa Đéc 2.324.527đ, tiền viện phí BV Lai Vung 163.948đ, chụp phim cone 500.000đ; tiền tái khám BV Chợ Rẫy ngày 13/9/2024 532.000đ; ngày 14/9/2024 423.338đ; ngày 14/10/2024 1.959.100đ; tiền ăn uống 300.000đ/người x 12 ngày = 1.200.000đ; tiền mất việc làm 120 ngày x 400.000đ = 48.000.000đ; tiền xe đi tái khám ở TP HCM 4 chuyến x 720.000đ = 2.880.000đ; tiền thuê xe 7 chỗ tái khám ở TP HCM 01 chuyến = 1.850.000đ, tiền trồng trăng 03 cái 10.500.000đ; tiền sửa xe 12.459.000đ và tiền tổn thất tinh thần 06 tháng cơ bản là 14.040.000đ. Tổng cộng là 110.557.427đ trừ 20.000.000đ mà anh H đã đưa số còn lại là 90.557.427đ làm tròn 90.557.000đ. Bị đơn anh Trần H đồng ý bồi thường cho anh T tất cả các khoản gồm tiền xe cấp cứu từ Sa Đéc đến BV Chợ Rẫy là 2.400.000đ; tiền xe xuất viện từ TP HCM về Lai Vung là 2.300.000đ; tiền xe đi tái khám 2.000.000đ; tiền viện phí ở BV Chợ Rẫy 520.000đ; tiền chụp CT ngày 09/4/2024 360.000đ; tiền viện phí BV 1A 3.471.995đ, toa thuốc ngày 03/5/2024 2.529.060đ, tiền viện phí BV Sa Đéc 2.324.527đ, tiền viện phí BV Lai Vung 163.948đ, chụp phim cone 500.000đ; tiền tái khám BV Chợ Rẫy ngày 13/9/2024 532.000đ; ngày 14/9/2024 423.338đ; ngày 14/10/2024 1.959.100đ; tiền ăn uống 300.000đ/người x 12 ngày = 1.200.000đ; tiền mất việc làm 120 ngày x 400.000đ = 48.000.000đ; tiền xe đi tái khám ở TP HCM 4 chuyến x 720.000đ = 2.880.000đ; tiền thuê xe 7 chỗ tái khám ở TP HCM 01 chuyến = 1.850.000đ và tiền tổn thất tinh thần 06 tháng cơ bản là 14.040.000đ nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Đối với tiền sửa xe 12.459.000đ; tiền trồng trăng 03 cái 10.500.000đ anh T yêu cầu anh H bồi thường nhưng anh H không đồng ý chỉ đồng ý bồi thường tiền sửa xe là 7.000.000đ, tiền trồng răng 6.000.000đ nhưng xét thấy thiệt hại xẩy ra là hoàn toàn do lỗi của anh H, tại các biên bản của công an huyện Lai Vung cũng xác định rõ lỗi hoàn toàn do anh H, anh T cũng đã cũng cấp đầy đủ các phiếu sửa xe và phiếu điều trị, đối với thương tích của anh T giám định 38% thiệt hại thực tế có xảy ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí:

Do yêu cầu của anh T được Tòa án chấp nhận nên anh anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 588, Điều 590 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, Điều 92; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d, đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Phạm T.

Buộc anh Trần H bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và tài sản cho anh Phạm T tổng số tiền là 90.412.968 đồng (Chín mươi triệu, bốn trăm mười hai nghìn, chín trăm sáu mươi tám đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) mà người phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Án phí, tạm ứng án phí:

Anh Trần H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 4.520.648 đồng (Bốn triệu, năm trăm hai mươi nghìn, sáu trăm bốn mươi tám đồng).

Hoàn trả lại cho anh Phạm T số tiền 312.000 đồng (Ba trăm mười hai nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005730 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 09/6/2025.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ