vanban.org

Bản án 45/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Trùng D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Xử phạt bị cáo Dương Trùng D 05 (Năm) năm tù.

Về vật chứng: Tịch thu lưu trữ theo hồ sơ các tài liệu là vật chứng đã đưa vào hồ sơ vụ án gồm: 10 danh sách hụi, 59 giấy xác nhận nhận tiền của D và N dùng để ghi danh sách các dây hụi và theo dõi việc khui hụi, giao nhận tiền hụi. Tất cả vật chứng được lập biên bản thu giữ đưa vào lưu hồ sơ vụ án.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Trùng D - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Trùng D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Xử phạt bị cáo Dương Trùng D 05 (Năm) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HSST
Ngày 18 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Diệp Chí Nguyện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng

Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Trùng D, sinh năm 1990; Nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Y sĩ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Đình T, sinh năm 1963 và bà Trương Tuyết L, sinh năm 1965; Anh em ruột: 04 người, bị cáo nhỏ nhất; Vợ: Nguyễn Như N, sinh năm 1984; Con: 01 người sinh năm 2013).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo D bị bắt tạm giam từ ngày 17/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Những người bị hại:

1/ Bà Lê Thúy L1, sinh năm 1976. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

2/ Bà Phạm Thị G, sinh năm 1957. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

3/ Ông Hồ Văn B, sinh năm 1960. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

4/ Bà Vương Chà B1, sinh năm 1988. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

5/ Bà Thái Thị Hồng L2, sinh năm 1972. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

6/ Ông Nguyễn Văn Quân E, sinh năm 1975. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

7/ Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1989. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

8/ Bà Trương Mộng C, sinh năm 1980. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

9/ Bà Tô Kim N1, sinh năm 1994. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

10/ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1982. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

11/ Ông Trần Văn Â, sinh năm 1964. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

12/ Ông Võ Vũ N2, sinh năm 1987. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

13/ Bà Quách Thị S, sinh năm 1975. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

14/ Ông Đinh Văn N3, sinh năm 1973. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

15/ Bà Phạm Thị P1, sinh năm 1969. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

16/ Bà Lê Thị T1, sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

17/ Bà Nguyễn Kim T2, sinh năm 1977. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

18/ Ông Trương Văn H, sinh năm 1962. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

19/ Ông Lê Văn D1, sinh năm 1956. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

20/ Bà Bùi Thị Hồng D2, sinh năm 1987. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

21/ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1971. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

22/ Bà Trương Mỹ L3, sinh năm 1979. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

23/ Bà Đinh Ngọc T3, sinh năm 1975. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

24/ Bà Huỳnh Kim T4, sinh năm 1960. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

25/ Bà Lê Cẩm T5, sinh năm 1972. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

26/ Bà Trà Thu Đ, sinh năm 1995. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

27/ Ông Trần Văn G1, sinh năm 1982. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

28/ Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1977. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

29/ Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1948. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

30/ Bà Trần Diễm T7, sinh năm 1968. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

31/ Ông Quách Chí T8, sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

32/ Ông Tô Văn Đ1, sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

33/ Bà Võ Thị L4, sinh năm 1971. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

34/ Bà Trương Thị Á, sinh năm 1967. Vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

35/ Bà Đinh Thị L5, sinh năm 1988. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

36/ Bà Nguyễn Thị T9, sinh năm 1965. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

37/ Ông Trần Thanh Đ2, sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

38/ Ông Đặng Hữu T10, sinh năm 1965. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Như N, sinh năm 1984 (vợ D). Vắng mặt.

Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

2/ Bà Dương Thị B2, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Trùng D và vợ là Nguyễn Như N làm chủ hụi từ năm 2019 và mở nhiều dây hụi cho hụi viên tham gia để hưởng tiền cò (hoa hồng trên mỗi kỳ khui hụi là 50% đối với mỗi kỳ hụi). Ngoài ra, còn có Võ Thanh D3 là người làm công cho gia đình D tham gia phụ giúp Dương khui hụi và thu tiền hụi. Mặc dù D, N cùng mở hụi nhưng việc tổ chức dây hụi, quyết định ai hốt, giao tiền hụi cho ai là do D quyết định. Quá trình làm chủ hụi D có lập danh sách hụi giao cho hụi viên và quy định thể lệ chơi hụi, thời gian bỏ thăm (khui hụi), gom tiền và giao tiền hụi rõ ràng. Theo đó, hụi viên bỏ thăm cao hơn sẽ được hốt hụi. D, N không mở sổ theo dõi việc bỏ thăm và hốt hụi của từng dây hụi, nhưng D, N có theo dõi tiền khui hụi bằng cách trực tiếp ghi vào danh sách hụi viên của từng dây, đồng thời khi giao tiền hụi cho hụi viên, D, N có làm biên nhận.

Khoảng tháng 10/2021, D bị thâm hụt tiền do tiêu xài, hụi viên Trịnh Thị M hốt hụi nhưng không đóng lại hụi chết và một số hụi viên đóng hụi chết trễ nên D nảy sinh ý định tự ý hốt hụi của hụi viên. D lợi dụng những hụi viên không đi bỏ thăm rồi tự ý lấy tên hụi viên bỏ thăm để hốt hụi, lấy tiền phục vụ cho mục đích cá nhân (tiêu xài và lấp hụi). Đến tháng 2/2023 âm lịch, D tuyên bố đình hụi thì còn lại 10 dây hụi liên quan đến 85 hụi viên. Trong đó, có 06 dây hụi liên quan đến 38 hụi viên bị D chiếm đoạt với số tiền 247.890.000đ. Cụ thể như sau:

Dây thứ 1: Mở ngày 06/10/2020 (nhằm ngày 20/8/2020 âm lịch), loại hụi 1.000.000đ/tháng, khui vào ngày 20 âm lịch hàng tháng, gồm 33 chân. D tham gia chơi 04 chân và mượn hụi của hụi viên Trương Mỹ L3 01 chân, của hụi viên Nguyễn Kiều O 01 chân. D đã hốt 06 chân. Dây hụi này đã khui được 28 kỳ (28 chân), hụi viên thực hốt 25 chân. D tự ý lấy tên hụi viên vắng mặt bỏ thăm hốt 03 chân, chiếm đoạt số tiền 61.420.000đ, cụ thể như sau:

Kỳ 13 (tháng 10/2021 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Cô B1” (Vương Chà B1), bỏ thăm 380.000đ để hốt, chiếm đoạt 19.640.000đ.

Kỳ 14 (tháng 11/2021 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Chú 4 H (Bà C1)” (Trương Văn H), bỏ thăm 360.000đ để hốt, chiếm đoạt 20.080.000đ.

- Kỳ 20 (tháng 5/2022 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Cô L4 (T11)” (Lê Thúy L1), bỏ thăm 350.000đ để hốt, chiếm đoạt 21.700.000đ.

Còn 08 chân của 06 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:

+ Lê Thúy L1: 02 chân đóng 30.480.000đ.

+ Trương Văn H: 01 chân đóng 15.240.000đ.

+ Phạm Thị G: 01 chân đóng 15.240.000đ.

+ Hồ Văn B: 01 chân đóng 15.240.000đ.

+ Vương Chà B1: 02 chân đóng 30.480.000đ.

+ Thái Thị Hồng L2: 01 chân đóng 15.240.000đ.

Dây thứ 2: Mở ngày 16/5/2021 (nhằm ngày 05/4/2021 âm lịch), loại hụi 1.000.000đ/tháng, khui vào ngày 05 âm lịch hàng tháng, gồm 20 chân, D tham gia chơi 03 chân và mượn của hụi viên Nguyễn Kiều O 02 chân. D đã hốt 05 chân. Dây hụi này đã khui được 19 kỳ (19 chân), hụi viên thực hốt 17 chân, D tự ý lấy tên hụi viên hốt 02 chân, chiếm đoạt số tiền 26.900.000đ, cụ thể như sau:

- Kỳ 11 (tháng 4/2022 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Cô L2 (C)” (Thái Thị Hồng L2), bỏ thăm 300.000đ để hốt, chiếm đoạt 13.400.000đ.

- Kỳ 14 (tháng 7/2022 âm lịch): D tự lấy tên hụi viên “Anh Quân E” (Nguyễn Văn Quân E), bỏ thăm 350.000đ để hốt, chiếm đoạt (l) 13.500.000đ.

Còn 03 chân của 03 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:

+Nguyễn Văn Q Em: 01 chân đóng 12.590.000đ.

+ Thái Thị Hồng L2: 01 chân đóng 12.590.000đ.

+ Nguyễn Hoàng K: 01 chân đóng 12.590.000đ.

(BL: 214 đến 216, 261, 262, 263, 266, 306, 307)

Dây thứ 3: Mở ngày 24/7/2021 (nhằm ngày 15/6/2021 âm lịch), loại hụi 2.000.000đ/tháng, khui vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, gồm 20 chân, D tham gia chơi 01 chân, D đã hốt. Dây hụi này đã khui được 17 kỳ (17 chân), hụi viên thực hốt 14 chân, D tự ý lấy tên hụi viên hốt 03 chân, chiếm đoạt số tiền 82.350.000đ, cụ thể như sau:

- Kỳ 8 (tháng 3/2022 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Chú 4 D1 (5 Chung CP)” (Trương Mộng C), bỏ thăm 850.000đ để hốt, chiếm đoạt số tiền 26.950.000đ.

- Kỳ 9 (tháng 4/2022 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên (Trần Văn Â), bỏ thăm 800.000đ để hốt, chiếm đoạt số tiền 27.600.000đ.

- Kỳ 11 (tháng 6/2022 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Chú 4 D1 (5 Chung CP)” (Lê Văn D1), bỏ thăm 850.000đ để hốt, chiếm đoạt số tiền 27.800.000đ.

Còn 06 chân của 06 hụi viên đóng hụi chưa được hốt gồm:

+ Trương Mộng C: 01 chân đóng 17.520.000đ.

+ Lê Văn D1: 01 chân đóng 17.520.000đ.

+ Tô Kim N1: 01 chân đóng 17.520.000đ.

+ Nguyễn Văn P: 01 chân đóng 17.520.000đ.

+ Trần Văn Â: 01 chân đóng 17.520.000đ.

+ Võ Vũ N2: 01 chân đóng 17.520.000đ.

Dây thứ 4: Mở ngày 23/12/2021 (nhằm ngày 20/11/2021 âm lịch), loại hụi 2.000.000đ/tháng, khui vào ngày 20 âm lịch hàng tháng, gồm 20 chân, T, N tham gia chơi 02 chân, mượn của hụi viên Đinh Thị H2 01 chân. D đã hốt hết 03 chân. Dây hụi này đã khui được 15 kỳ (15 chân), hụi viên thực hốt 13 chân, D tự ý hốt 02 chân, chiếm đoạt số tiền 44.670.000đ. Cụ thể như sau:

- Kỳ 4 (tháng 2/2022 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Chú 4 Dũng” (Lê Văn D1), bỏ thăm 850.000đ để hốt, chiếm đoạt số tiền 21.550.000đ.

- Kỳ 9 (tháng 7/2022 âm lịch): D tự ý lấy tên hụi viên “Chú 4 Dũng” (Lê Văn D1), bỏ thăm 920.000đ để hốt, chiếm đoạt số tiền 23.120.000đ.

Còn 07 chân của 06 hụi viên đóng hụi nhưng chưa được hốt gồm:

- Trương Văn H: 01 chân đóng 13.260.000đ.

- Tô Kim Nhí: 01 chân đóng 13.260.000đ.

- Lê Văn D1: 02 chân đóng 26.520.000đ.

- Tô Văn Đ1: 01 chân đóng 13.260.000đ.

- Nguyễn Văn P: 01 chân đóng 13.260.000đ.

- Quách Chí Thanh: 01 chân đóng 13.260.000đ.

Dây thứ 5: Mở ngày 11/01/2022 (nhằm ngày 09/12/2021 âm lịch), loại hụi 1.000.000đ/tháng, khui vào ngày 09 âm lịch hàng tháng, gồm 32 chân, D, N tham gia chơi 03 chân, D đã hốt hết 03 chân. Dây hụi này đã khui được 13 kỳ (13 chân), hụi viên thực hốt 12 chân, D tự ý hốt 01 chân. Tại kỳ 6 (tháng 5/2022 âm lịch) D tự ý lấy tên hụi viên “Dì 10” (T), bỏ thăm 350.000đ để hốt, chiếm đoạt số tiền 19.550.000đ.

Còn 20 chân của 15 hụi viên đóng hụi nhưng chưa được hốt gồm:

+ Bùi Thị Hồng D2: 01 chân đóng 7.060.000đ.

+ Trần Văn Â: 01 chân đóng 6.410.000đ.

+ Trần Thị H1: 01 chân đóng 7.060.000đ.

+Quách Thị S: 02 chân đóng 13.120.000đ.

+ Trương Mỹ L3: 01 chân đóng 7.060.000đ.

+ Đinh Văn N3: 04 chân đóng 28.240.000đ.

+ Đinh Ngọc T3: 01 chân đóng 6.560.000đ.

+ Huỳnh Kim T4: 01 chân đóng 7.060.000đ.

+ Phạm Thị P1: 02 chân đóng 14.120.000đ.

+ Lê Thị T1: 01 chân đóng 6.560.000đ.

+ Tô Kim N1: 01 chân đóng 7.060.000đ.

+ Lê Cẩm T5: 01 chân đóng 7.060.000đ.

+ Thái Thị Hồng L2: 01 chân đóng 6.010.000đ.

+ Nguyễn Kim T2: 01 chân đóng 7.060.000đ.

+ Trà Thu Đ: 01 chân đóng 6.560.000đ.

(BL: 226 đến 229, 273, 274, 335, 340 đến 343, 378, 382, 383, 385, 387, 388, 394, 395, 397, 416, 417, 418, 433, 442, 447, 449, 451)

Dây thứ 6: Mở ngày 06/02/2022 (nhằm ngày 06/01/2022 âm lịch), loại hụi 1.000.000đ/tháng, khui vào ngày 06 âm lịch hàng tháng, gồm 30 chân, D, N tham gia chơi 02 chân, D đã hốt hết 02 chân. Dây hụi này đã khui được 12 kỳ (12 chân), hụi viên thực hốt 11 chân, D tự ý hốt 01 chân. Tại kỳ 6 (tháng 6/2022 âm lịch) D tự ý lấy tên hụi viên “Chú 4 Dũng” (Lê Văn D1), bỏ thăm 600.000đ để hốt, chiếm đoạt số tiền 13.000.000đ.

Còn 19 chân của 14 hụi viên đóng hụi nhưng chưa được hốt gồm:

- Đặng Hữu T10: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Đinh Thị L5: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Nguyễn Thị K1: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Trương Văn H: 02 chân đóng 11.720.000đ.

- Lê Văn D1: 03 chân đóng 17.580.000đ.

- Quách Chí Thanh: 02 chân đóng11.720.000đ.

- Tô Văn Đ1: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Trần Diễm T7: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Nguyễn Thị T9: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Trương Thị Á: 02 chân đóng 11.720.000đ.

- Trần Văn G1: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Nguyễn Thị T6: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Trần Thanh Đ2: 01 chân đóng 5.860.000đ.

- Võ Thị L4: 01 chân đóng 5.860.000đ.

(Bút lục: 232 đến 234, 811 đến 816, 832 đến 834, 970)

Tổng số tiền D tự ý lấy tên hụi viên để hốt hụi chiếm đoạt tiền của các hụi viên là 247.890.000đ (Hai trăm bốn mươi bảy triệu, tám trăm chín chục ngàn đồng).

Về vật chứng: Quá trình điều tra bị can D và Nguyễn Như N có giao nộp: 10 danh sách hụi, 59 giấy xác nhận nhận tiền của D và N dùng để ghi danh sách các dây hụi và theo dõi việc khui hụi, giao nhận tiền hụi. Hiện các đồ vật này Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã đưa vào hồ sơ vụ án. (BL: 86, 94, 95)

Về dân sự: Quá trình điều tra, các bị hại yêu cầu D, N trả lại tiền hụi đã đóng chưa được hốt với số tiền như sau:

- Lê Thúy L1 26.000.000đ. (BL: 288)

- Phạm Thị G 15.240.000đ. (BL: 323)

- Hồ Văn B 9.240.000đ. (BL: 377)

- Vương Chà B1 23.480.000đ. (BL: 283)

- Thái Thị Hồng L2 48.250.000đ. Trong đó, có 9.610.000đ ở những dây hụi không bị D chiếm đoạt (BL: 268, 269)

- N Em 12.590.000đ. (BL: 263)

- Nguyễn Hoàng K 12.590.000đ. (BL:307)

- Trương Mộng C 12.000.000đ. (BL: 280)

- Tô Kim Nhí 56.500.000đ. Trong đó, có 37.940.000đ ở những dây hụi không bị D chiếm đoạt. (BL:370)

- Nguyễn Văn P 64.000.000đ. Trong đó, có 38.000.000đ ở những dây hụi không bị D chiếm đoạt. (BL:303)

- Trần Văn  23.930.000đ. (BL:275)

- Võ Vũ N2 37.190.000đ. Trong đó, có 19.670.000đ ở những dây hụi không bị D chiếm đoạt. (BL: 360)

- Quách Thị S 13.120.000đ. (BL: 341)

- Đinh Văn N3 35.000.000đ. (BL: 385)

- Phạm Thị P1 14.120.000đ. (BL: 343)

- Lê Thị T1 11.350.000đ. Trong đó, có 4.790.000đ ở những dây hụi không bị D chiếm đoạt. (BL: 337)

- Nguyễn Kim T2 7.060.000đ. (BL: 388)

- Tô Văn Đ1 26.000.000đ. Trong đó, tiền thực đóng là 19.120.000đ. (Bút lục: 820)

- Quách Chí Thanh 29.815.000đ. Trong đó, tiền thực đóng là 24.980.000đ. (Bút lục: 326)

- Trương Mỹ L3 17.000.000đ. (Bút lục: 382, 802)

- Đinh Thị L5 4.870.000đ. (Bút lục: 823)

- Võ Thị L4 18.140.000đ. Trong đó có 15.280.000đ trong những dây hụi không bị D chiếm đoạt. (Bút lục: 825)

- Trương Thị Ánh 11.720.000đ. (Bút lục: 821)

- Nguyễn Thị T9 11.560.000đ. Trong đó, có 5.700.000đ trong dây hụi không bị D chiếm đoạt. (Bút lục: 338)

Trần Thanh Đ2 5.860.000đ (Bút lục: 344)

- Nguyễn Thị K1 5.860.000đ (Bút lục: 819)

- Trần Văn G1 5.860.000đ (Bút lục: 318)

- Nguyễn Thị T6 23.340.000đ. Trong đó có 17.480.000đ trong những dây hụi không bị D chiếm đoạt. (Bút lục: 329)

- Trần Diễm T7 11.560.000đ. Trong đó có 5.700.000đ trong dây hụi không bị D chiếm đoạt. (Bút lục: 824)

Tại phiên tòa bị cáo D thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo D thừa nhận là người trực tiếp làm chủ hụi, không có người khác tham gia. Việc làm chủ hụi, khui hụi, gom hụi do D trực tiếp quản lý và quyết định. Tuy nhiên, D và N là vợ chồng ở chung nhà nên khi D vắng nhà thì giao cho N đi gom tiền hụi, giao tiền hụi hoặc có khi D kêu D3 đi gom hụi theo giấy ghi của D.

Quá trình làm chủ hụi, D đã lợi dụng sự tin tưởng của hụi viên, lợi dụng các hụi viên không đi khui hụi đầy đủ, đã tạo điều kiện cho D thực hiện nhiều hành vi nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của các hụi viên như: Ghi tên khống hụi viên trong danh sách hụi tham gia với mục đích để hốt hụi, thu tiền hụi viên ngoài danh sách, tự ý lấy tên hụi viên hốt hụi để chiếm đoạt tiền của các hụi viên. Trong đó, có 4 dây hụi D đã thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt với tổng số tiền 247.890.000đ như cáo trạng của Viện Kiểm Sát đã truy tố.

Bị cáo Dương xác định trong quá trình điều tra truy tố không bị thu giữ tài sản gì khác so với vật chứng vụ án và xác định Viện kiểm sát truy tố theo cáo trạng là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, không oan sai. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo D đồng ý bồi thường số tiền đã chiếm đoạt mà các hụi viên là bị hại đặt ra yêu cầu, không yêu cầu đối chất điều chỉnh, bị cáo và gia đình đã khắc phục được một phần cho các bị hại và đồng ý tiếp tục bồi thường thêm số tiền mà các bị hại (các hụi viên) đặt ra tại phiên tòa.

Theo cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Dương Trùng Dương về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình đã truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Trùng D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo D từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu lưu trữ theo hồ sơ 10 danh sách hụi, 59 giấy xác nhận nhận tiền của D và N dùng để ghi danh sách các dây hụi và theo dõi việc khui hụi, giao nhận tiền hụi. Hiện các đồ vật này Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã đưa vào hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền 50.000.000đ, chị Dương Thị B2 là chị ruột của D đã nộp tại Cơ quan điều tra để khắc phục cho các bị hại, hiện Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tạm gửi Kho bạc Nhà nước huyện T, theo giấy nộp tiền ngày 30/10/2023, để đảm bảo việc thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại với bị cáo thỏa thuận mức bồi thường đề nghị công nhận sự giữa các bị hại và bị cáo D. Buộc bị cáo D và bà N liên đới bồi thường cho các bị hại, gồm: Lê Thúy L1 số tiền 26.000.000đ; Phạm Thị G số tiền 15.240.000đ; Hồ Văn B số tiền 9.240.000đ; Vương Chà B1 số tiền 25.480.000đ; Thái Thị Hồng L2 số tiền 48.250.000đ; Nguyễn Văn Q Em số tiền 12.590.000đ; Nguyễn Hoàng K số tiền 12.590.000đ; Trương Mộng C số tiền 12.000.000đ; Tô Kim N1 số tiền 56.500.000đ; Nguyễn Văn P số tiền 35.570.000đ; Trần Văn  số tiền 23.930.000đ; Võ Vũ N2 số tiền 37.190.000đ; Quách Thị S số tiền 13.120.000đ; Đinh Văn N3 số tiền 28.240.000đ; Phạm Thị P1 số tiền 14.120.000đ; Lê Thị T1 số tiền 11.350.000đ; Nguyễn Kim T2 số tiền 7.060.000đ; Tô Văn Đ1 số tiền 19.120.000đ; Quách Chí T8 số tiền 29.815.000đ; Trương Mỹ L3 số tiền 17.000.000đ; Đinh Thị L5 số tiền 4.870.000đ; Võ Thị L4 số tiền 18.140.000đ; Trương Thị Á số tiền 11.720.000đ; Nguyễn Thị T9 số tiền 11.560.000đ; Trần Thanh Đ2 số tiền 5.860.000đ; Nguyễn Thị K1 số tiền 5.860.000đ; Trần Văn G1 số tiền 5.860.000đ; Nguyễn Thị T6 số tiền 23.340.000đ; Trần Diễm T7 số tiền 11.560.000đ. Tổng cộng số tiền 553.175.000đ.

Quá trình điều tra, chị Dương Thị B2 là chị ruột của D đã nộp tại Cơ quan điều tra 50.000.000đ để khắc phục cho các bị hại, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tạm gửi Kho bạc Nhà nước huyện Thới Bình theo giấy nộp tiền ngày 30/10/2023. Đây là tiền của chị B2 nộp cho D khắc phục hậu quả. Chị B2 không đặt ra yêu cầu D trả lại nên không đặt ra xem xét.

Đối với 09 hụi viên (là bị hại) đã thỏa thuận xong, không yêu cầu đến hình sự, dân sự gồm: Trương Văn H, Lê Văn D1, Bùi Thị Hồng D2, Trần Thị H1, Đinh Ngọc T3, Huỳnh Kim T4, Lê Cẩm T5, Trà Thu Đ, Đặng Hữu T10 nên không đặt ra xem xét.

Đối với Nguyễn Như N là vợ của Dương Trùng D, kết quả điều tra chứng minh được: Việc làm chủ hụi do bị cáo D và N tổ chức cho hụi viên tham gia, N có phụ giúp D rủ các hụi viên tham gia chơi hụi, khui hụi khi D vắng và đi gom tiền hụi. Tuy nhiên, quyết định ai chơi, ai hốt, giao tiền hụi cho ai là do D quyết định. Không có chứng cứ chứng minh khi D có hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của các hụi viên, D có bàn bạc với N hay N biết việc D tự ý lấy tên của hụi viên để hốt hụi. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T không xử lý trách nhiệm hình sự đối với N là phù hợp. Tuy nhiên, N biết và đồng ý việc cùng D làm chủ hụi và việc D chiếm đoạt tiền của các hụi viên được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân với N nên N phải có nghĩa vụ liên đới cùng bị cáo D trả lại tiền cho các bị hại.

Đối với Võ Thanh D3 là người làm thuê cho D. D3 có đi gom hụi của hụi viên theo sự phân công của D nhưng việc D lấy tên hụi viên để hốt hụi D3 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý D3 là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thiện L6, Lý Kim C2, Trương Thị Đ3, Lê Kiều D4, Phạm Văn G2, Quách Thị N4, Võ Thị V, Đoàn Bé H3, Nguyễn Văn V1, Lê Ngọc Đ4, Nguyễn Như K2, Lê Thị Lệ P2, Nguyễn Thị L7, Nguyễn Như Q1, Nguyễn Kiều O, Nguyễn Thanh T12, Lê Kim P3, Huỳnh Ngọc L8, Huỳnh Hồng N5, Đinh Thị H2 tham gia chơi trong 06 dây hụi D chiếm đoạt tiền của hụi viên. Những hụi viên này đã hốt hụi hoặc cho D mượn hụi. Hiện D và những hụi viên này tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu gì về phần dân sự. Nếu không thỏa thuận được thì D và những hụi viên này có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác để yêu cầu về phần dân sự.

Đối với các hụi viên: Võ Thanh D3, Trịnh Thị M tham gia chơi hụi trong 06 dây hụi D có chiếm đoạt tiền của hụi viên. D khai những hụi viên này đã hốt hụi và còn nợ hụi chết của D, nhưng quá trình điều tra không làm việc được với những hụi viên này do những người này không có mặt ở địa phương và không biết được hiện ở đâu, làm gì nên chưa làm rõ được về phần dân sự liên quan đến vụ án. Nếu không thỏa thuận được, bị cáo D có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác để yêu cầu những người này thanh toán cho D.

Đối với 04 dây hụi còn lại: dây hụi 1.000.000đ/tháng mở ngày 01/02/2021 âm lịch; dây hụi 1.000.000đ/tháng mở ngày 29/01/2022 âm lịch; dây hụi 1.000.000đ/tháng mở ngày 15/3/2022 âm lịch; dây hụi 2.000.000đ/tháng mở ngày 05/8/2022 âm lịch, Cơ quan điều tra đã làm rõ D không thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của hụi viên nên đây là giao dịch dân sự. Giữa D và một số hụi viên đã tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu về phần dân sự. Tuy nhiên, có 11 hụi viên yêu cầu D, N trả lại tiền đóng hụi nhưng chưa được hốt, gồm: Trần Thị C3, Tạ Thanh P4, Nguyễn Ngọc T13, Tạ Quốc T14, Nguyễn Minh T15, Trần Thị Trúc G3, Cao Thị P5, Dương Thị L9, Nguyễn Chí B3, Nguyễn Văn Đ5, Nguyễn Thị Đà . Quá trình điều tra chứng minh được không có dấu hiệu tội phạm đối với những dây hụi này, việc các hụi viên yêu cầu D trả lại tiền đã đóng hụi là quan hệ dân sự, nếu không thỏa thuận được thì những người này có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác để yêu cầu D thanh toán.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo biết việc làm của mình là sai khi chiếm đoạt tiền của các hụi viên và vi phạm pháp luật nên rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về gia đình, lo làm ăn kiếm tiền khắc phục bồi thường cho các bị hại và phụng dưỡng cha mẹ già.

Các bị hại Trần Diễm T7, Lê Văn D1, Phạm Thị P1 có ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại và những người có liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại và người có liên quan không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên được tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Dương Trùng D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xác định không oan sai. Với hành vi của bị cáo đã thực hiện và lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố. Cụ thể: Dương Trùng D làm chủ hụi từ năm 2019, địa điểm khui hụi là tại nhà của D tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau để hưởng hoa hồng. Lúc đầu, D làm chủ hụi đã giao hụi cho hụi viên đầy đủ, hoàn thành nhiều dây hụi nên được nhiều hụi viên ở địa bàn xã H và nhiều xã khác cũng tin tưởng tham gia. Trong quá trình làm chủ hụi đến năm 2021, D bị thâm hụt tiền do chi xài cá nhân và trong gia đình, việc tràn lắp hụi cho các hụi viên dẫn đến mất cân đối, nhưng bị cáo D không dừng hụi, mà nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của hụi viên. Lợi dụng việc hụi viên không đi khui hụi, D đã rất nhiều lần tự ý lấy tên hụi viên để bỏ thăm hốt hụi trong nhiều dây hụi chiếm đoạt với số tiền 247.890.000đ.

Xét thấy, hành vi của bị cáo D thực hiện đã trực tiếp chiếm đoạt tiền của nhiều bị hại đều là hụi viên do D làm chủ hụi nên bị cáo D phải gánh chịu hậu quả. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tiền sử dụng cá nhân. Với sự thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích sử dụng cá nhân là vi phạm pháp luât. Theo các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ, qua thẩm tra tại phiên tòa cho thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Dương Trùng D về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nhiều người khác nhau, gây hoang mang dư luận ở địa phương, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức và biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện cần được xử lý nghiêm và có mức hình phạt tương xứng, nhằm răn đe, giáo dục, phòng chống phạm tội tương tự có thể xảy ra trong xã hội trong thời gian tới.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo D có hành vi rất nhiều lần tự ý lấy tên hụi viên bỏ thăm hốt hụi để chiếm đoạt tiền của hụi viên trong nhiều dây hụi do mình làm chủ nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo nhằm lẫn trong khai báo về số tiền bị cáo chiếm đoạt ban đầu là 190.220.000đ, sau khi điều tra bổ sung thêm số tiền 57.670.000đ tổng cộng số tiền 247.890.000đ. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện sự ăn năn hối cải. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo D đã khắc phục một phần cho các bị hại là hụi viên, bằng cách thỏa thuận cho các hụi viên thanh toán với nhau. Bị cáo đã tác động, nhờ gia đình trả cho các bị hại Hồ Văn B, Tô Kim N1, Trần Thị H1, Trương Văn H, Trương Mỹ L3, Vương Chà B1. Đồng thời, tác động gia đình nộp tại Cơ quan điều tra 50.000.000đ để khắc phục hậu quả cho các bị hại. Bị cáo có cha là ông Dương Đình T là người có công với cách mạng. Đồng thời, tại phiên tòa bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường về trách nhiệm dân sự cho các bị hại đã đặt ra yêu cầu. Tại phiên tòa, đã có nhiều bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến các tình tiết trên và cùng ý kiến của các bị hại để làm căn cứ khi lượng hình, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với những người bị hại có yêu cầu bị cáo D và bà N tiếp tục bồi thường và đã thỏa thuận được số tiền bồi thường. Hội đồng xét xử xét thấy, bà N thừa nhận cùng D làm chủ hụi tại nhà và biết việc D chiếm đoạt tiền của các hụi viên được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân, thừa nhận có dùng tiền chi xài, hoạt động trong gia đình. Quá trình điều tra, truy tố bà N đã đồng ý cùng với D bồi thường cho các bị hại mà D đã chiếm đoạt. Do đó, yêu cầu của các bị hại phù hợp với sự thừa nhận của D và N và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Cần buộc bị cáo D và N liên đới tiếp tục bồi thường cho các bị hại gồm: Lê Thúy L1 số tiền 26.000.000đ; Phạm Thị G số tiền 15.240.000đ; Hồ Văn B số tiền 9.240.000đ; Vương Chà B1 số tiền 25.480.000đ; Thái Thị Hồng L2 số tiền 48.250.000đ; Nguyễn Văn Q Em số tiền 12.590.000đ; Nguyễn Hoàng K số tiền 12.590.000đ; Trương Mộng C số tiền 12.000.000đ; Tô Kim N1 số tiền 56.500.000đ; Nguyễn Văn P số tiền 35.570.000đ; Trần Văn  số tiền 23.930.000đ; Võ Vũ N2 số tiền 37.190.000đ; Quách Thị S số tiền 13.120.000đ; Đinh Văn N3 số tiền 28.240.000đ; Phạm Thị P1 số tiền 14.120.000đ; Lê Thị T1 số tiền 11.350.000đ; Nguyễn Kim T2 số tiền 7.060.000đ; Tô Văn Đ1 số tiền 19.120.000đ; Quách Chí T8 số tiền 29.815.000đ; Trương Mỹ L3 số tiền 17.000.000đ; Đinh Thị L5 số tiền 4.870.000đ; Võ Thị L4 số tiền 18.140.000đ; Trương Thị Á số tiền 11.720.000đ; Nguyễn Thị T9 số tiền 11.560.000đ; Trần Thanh Đ2 số tiền 5.860.000đ; Nguyễn Thị K1 số tiền 5.860.000đ; Trần Văn G1 số tiền 5.860.000đ; Nguyễn Thị T6 số tiền 23.340.000đ; Trần Diễm T7 số tiền 11.560.000đ. Tổng cộng số tiền 553.175.000đ.

Các bị hại đã thỏa thuận mức bồi thường và không yêu cầu giải trong vụ án này hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi có tranh chấp có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

[6] Về vật chứng: Xét thấy vật chứng thu giữ là tài liệu sách vở ghi chép trong quá trình làm hụi, đã được lập biên bản thu giữ đưa vào hồ sơ vụ án trong quá trình điều tra, truy tố nên cần tịch thu lưu trữ theo hồ sơ các tài liệu là vật chứng đã đưa vào hồ sơ vụ án gồm: 10 danh sách hụi, 59 giấy xác nhận nhận tiền của D và N dùng để ghi danh sách các dây hụi và theo dõi việc khui hụi, giao nhận tiền hụi. Tất cả vật chứng được lập biên bản thu giữ đưa vào lưu hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền 50.000.000đ, chị Dương Thị B2 là chị ruột của D đã nộp tại Cơ quan điều tra để khắc phục cho các bị hại, chị B2 không có đặt ra yêu cầu D trả lại nên Hội đồng xét xử không đặc ra xem xét.

[7] Đối với Nguyễn Như N là vợ của Dương Trùng D, kết quả điều tra chứng minh được: Việc làm chủ hụi do bị cáo D và N tổ chức cho hụi viên tham gia, N có phụ giúp D rủ các hụi viên tham gia chơi hụi, khui hụi khi D vắng và đi gom tiền hụi. Tuy nhiên, quyết định ai chơi, ai hốt, giao tiền hụi cho ai là do D quyết định. Không có chứng cứ chứng minh khi D có hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của các hụi viên, D có bàn bạc với N hay N biết việc D tự ý lấy tên của hụi viên để hốt hụi. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T không xử lý trách nhiệm hình sự đối với N là phù hợp.

Đối với Võ Thanh D3 là người làm thuê cho D. D3 có đi gom hụi của hụi viên theo sự phân công của D nhưng việc D lấy tên hụi viên để hốt hụi D3 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý D3 là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thiện L6, Lý Kim C2, Trương Thị Đ3, Lê Kiều D4, Phạm Văn G2, Quách Thị N4, Võ Thị V, Đoàn Bé H3, Nguyễn Văn V1, Lê Ngọc Đ4, Nguyễn Như K2, Lê Thị Lệ P2, Nguyễn Thị L7, Nguyễn Như Q1, Nguyễn Kiều O, Nguyễn Thanh T12, Lê Kim P3, Huỳnh Ngọc L8, Huỳnh Hồng N5, Đinh Thị H2 tham gia chơi trong 06 dây hụi D chiếm đoạt tiền của hụi viên. Những hụi viên này đã hốt hụi hoặc cho D mượn hụi. Hiện D và những hụi viên này tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu gì về phần dân sự. Nếu không thỏa thuận được thì D và những hụi viên này có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác để yêu cầu về phần dân sự.

Đối với các hụi viên: Võ Thanh D3, Trịnh Thị M tham gia chơi hụi trong 06 dây hụi D có chiếm đoạt tiền của hụi viên. D khai những hụi viên này đã hốt hụi và còn nợ hụi chết của D, nhưng quá trình điều tra không làm việc được với những hụi viên này do những người này không có mặt ở địa phương và không biết được hiện ở đâu, làm gì nên chưa làm rõ được về phần dân sự liên quan đến vụ án. Nếu không thỏa thuận được, bị cáo D có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác để yêu cầu những người này thanh toán cho D.

[8] Vấn đến khác: Đối với 09 hụi viên (là bị hại) đã thỏa thuận xong, không yêu cầu đến hình sự, dân sự gồm: Trương Văn H, Lê Văn D1, Bùi Thị Hồng D2, Trần Thị H1, Đinh Ngọc T3, Huỳnh Kim T4, Lê Cẩm T5, Trà Thu Đ, Đặng Hữu T10 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với 04 dây hụi còn lại: dây hụi 1.000.000đ/tháng mở ngày 01/02/2021 âm lịch; dây hụi 1.000.000đ/tháng mở ngày 29/01/202 âm lịch; dây hụi 1.000.000đ/tháng mở ngày 15/3/2022 âm lịch; dây hụi 2.000.000đ/tháng mở ngày 05/8/2022 âm lịch, Cơ quan điều tra đã làm rõ D không thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của hụi viên nên đây là giao dịch dân sự. Giữa D và một số hụi viên đã tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu về phần dân sự. Tuy nhiên, có 11 hụi viên yêu cầu D, N trả lại tiền đóng hụi nhưng chưa được hốt, gồm: Trần Thị C3, Tạ Thanh P4, Nguyễn Ngọc T13, Tạ Quốc T14, Nguyễn Minh T15, Trần Thị Trúc G3, Cao Thị P5, Dương Thị L9, Nguyễn Chí B3, Nguyễn Văn Đ5, Nguyễn Thị Đà . Quá trình điều tra chứng minh được không có dấu hiệu tội phạm đối với những dây hụi này, việc các hụi viên yêu cầu D trả lại tiền đã đóng hụi là quan hệ dân sự, nếu không thỏa thuận được thì những người này có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác để yêu cầu D thanh toán.

[9] Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 106, khỏan 1 Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật dân sự.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương Trùng D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Xử phạt bị cáo Dương Trùng D 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 17/10/2023.

Về vật chứng: Tịch thu lưu trữ theo hồ sơ các tài liệu là vật chứng đã đưa vào hồ sơ vụ án gồm: 10 danh sách hụi, 59 giấy xác nhận nhận tiền của D và N dùng để ghi danh sách các dây hụi và theo dõi việc khui hụi, giao nhận tiền hụi. Tất cả vật chứng được lập biên bản thu giữ đưa vào lưu hồ sơ vụ án.

Thu giữ và duy trì số tiền 50.000.000đ, đã nộp tại Cơ quan điều tra để khắc phục cho các bị hại, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tạm gửi Kho bạc Nhà nước huyện T, theo giấy nộp tiền ngày 30/10/2023, để đảm bảo việc thi hành án.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dương Trùng D và bà Nguyễn Như N liên đới tiếp tục bồi thường cho các bị hại với số tiền cụ thể, gồm: Lê Thúy L1 số tiền 26.000.000đ; Phạm Thị G số tiền 15.240.000đ; Hồ Văn B số tiền 9.240.000đ; Vương Chà B1 số tiền 25.480.000đ; Thái Thị Hồng L2 số tiền 48.250.000đ; Nguyễn Văn Q Em số tiền 12.590.000đ; Nguyễn Hoàng K số tiền 12.590.000đ; Trương Mộng C số tiền 12.000.000đ; Tô Kim N1 số tiền 56.500.000đ; Nguyễn Văn P số tiền 35.570.000đ; Trần Văn  số tiền 23.930.000đ; Võ Vũ N2 số tiền 37.190.000đ; Quách Thị S số tiền 13.120.000đ; Đinh Văn N3 số tiền 28.240.000đ; Phạm Thị P1 số tiền 14.120.000đ; Lê Thị T1 số tiền 11.350.000đ; Nguyễn Kim T2 số tiền 7.060.000đ; Tô Văn Đ1 số tiền 19.120.000đ; Quách Chí T8 số tiền 29.815.000đ; Trương Mỹ L3 số tiền 17.000.000đ; Đinh Thị L5 số tiền 4.870.000đ; Võ Thị L4 số tiền 18.140.000đ; Trương Thị Á số tiền 11.720.000đ; Nguyễn Thị T9 số tiền 11.560.000đ; Trần Thanh Đ2 số tiền 5.860.000đ; Nguyễn Thị K1 số tiền 5.860.000đ; Trần Văn G1 số tiền 5.860.000đ; Nguyễn Thị T6 số tiền 23.340.000đ; Trần Diễm T7 số tiền 11.560.000đ. Tổng cộng số tiền 553.175.000đ.

Kể từ ngày các bị hại nêu trên có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo D và N không thực hiện xong nghĩa vụ dân sự, bồi thường số tiền như đã nêu trên cho các bị hại, thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Các bị hại đã thỏa thuận mức bồi thường và không yêu cầu giải trong vụ án này hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi có tranh chấp có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Dương Trùng D phải nộp 200.000đ (chưa nộp). Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo D và bà N phải nộp số tiền 24.127.000đ (chưa nộp).

Bị cáo, bị hại, người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người có liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ