- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ích M phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? I. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Trần Ích M và bà Trần Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2024/HSPT Ngày 27/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
Các Thẩm phán:
1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn
2. Ông Phạm Ngọc Thành
-Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/HSPT ngày 21 tháng 5 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Trần Ích M, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXPT-HS ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
1. Bị cáo có kháng cáo: Trần Ích M; sinh ngày 03/5/1998, tại Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Trần Ích Y, đã chết và bà Trần Thị H, sinh năm 1975. Bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, sau đó nghỉ học lao động tự do tại địa phương. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Trích xuất có mặt).
2. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Văn N – Công ty L1
Địa chỉ: Số C tập thể Cục C, ngõ A, đường T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội (Có mặt).
3. Bị hại: Ông Trần Ích Y, sinh năm 1973 (Đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Ích Y:
- Bà Trần Thị H1, sinh năm 1924 (Là mẹ đẻ của ông Y), (Vắng mặt);
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1975 (Là vợ của ông Y) (Có mặt);
Đều có nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị H1, sinh năm 1924;
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1975;
- Cháu Trần Minh P, sinh ngày 01/8/2011 (Là con của ông Y);
Người đại diện theo pháp luật cho cháu P: Bà Trần Thị H, sinh năm 1975;
Đều có nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 16/7/2023, sau khi uống rượu tại nhà ông Trần Viết Q, sinh năm 1973 ở thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, ông Trần Ích Y đi về nhà thì gặp bà Trần Thị H (vợ ông Y) và cháu Trần Minh P (con gái ông Y) đang ở trong phòng khách. Ông Y chửi bới và có hành vi cầm 01 chiếc quạt cây nhãn hiệu VIVIKO ném một nhát về phía cháu P nhưng không trúng. Bà H gọi Trần Ích M (là con trai ông Y) ở quán cắt tóc của gia đình do M mở (cạnh nhà ở) về đưa ông Y vào nhà bà Trần Thị H1 (mẹ đẻ ông Y) ở cùng thôn, phía sau, cách nhà ông Y 18,4 mét, sau đó Mạnh đi về quán làm việc. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, ông Y cởi trần, mặc quần lửng đi ra trước cửa quán cắt tóc do bà H mở (cạnh quán của M), cầm theo 01 điếu cày bằng tre dài 65,5 cm, đường kính ngoài đầu ống 4,9 cm, đường kính ngoài của đuôi ống điếu 4,8 cm giơ lên chỉ vào trong quán nói “Mở cửa ra” và thực hiện việc kéo, đẩy nhưng không mở được cửa (cửa quán đang khóa bên trong). Cháu P thấy vậy nên gọi bà H, sau đó chạy qua cửa thông từ quán cắt tóc của bà H sang quán cắt tóc của M gọi M. Khi M đi sang quán cắt tóc của bà H, thì thấy ông Y ném điếu cày trúng vào cửa kính bên phải hướng từ đường vào, điếu cày rơi xuống đường, ông Y đi vào trong ngõ tiếp giáp giữa nhà ở của mình và nhà bà Lê Thị L. M đi ra trước cửa quán cắt tóc của bà H, nhặt chiếc điếu cày lên đi theo ông Y. Khi còn cách ông Y khoảng 01 mét, M nói liên tiếp hai câu “Đi về nhà”, đồng thời tay phải cầm điếu cày giơ lên vụt 02 nhát hướng từ phải sang trái, chếch từ trên xuống dưới, trong đó 01 nhát trúng vùng mặt ngoài cẳng chân trái, 01 nhát trúng vùng mặt ngoài đùi bên trái của ông Y làm sây sát da, bầm máu. Khi thấy ông Y co, duỗi chân trái, sau đó khom người xuống, dùng tay trái xoa cẳng chân trái, M tiếp tục cầm điếu cày giơ lên vụt 02 nhát, trong đó 01 nhát trúng vùng mặt ngoài cẳng tay trái làm sây sát da, bầm máu, 01 nhát trúng vùng thắt lưng bên trái của ông Y làm vỡ lách, tụ máu nhu mô lách. Do bị đau nên ông Y ngồi xổm xuống đường, M vứt điếu cày ra ngõ rồi đi vòng ra sau lưng ông Y hai tay ôm vào hai hõm lách ông Y kéo đứng dậy đi lùi về phía nhà bà H1 được khoảng 10 mét thì tuột tay làm ông Y trượt người xuống, mông, lưng tiếp đất hai khuỷu tay chống xuống đất, M đỡ vai, đầu ông Y rồi để ông Y nằm ngửa ra nền ngõ, hai tay cầm vào cổ tay phải ông Y kéo lê trên nền đường khoảng 1,9 mét thì dừng lại. Lúc này, bà H đi đến đứng bên phải ông Y, cháu P đứng sát chân ông Y, M khom người luồn hai tay vào hai bên hõm lách, bà H khom người hai tay đỡ lưng, mông, cháu P hai tay cầm hai cổ chân nhấc ông Y lên mông cách đất khoảng 0,3 cm, khiêng ông Y đặt nằm vào giường trong nhà bà H1. M dùng dây xích trói hai chân ông Y, dùng ổ khóa để khóa dây xích vào chân, đưa chìa khóa cho bà H rồi ra quán cắt tóc, bà H lấy dây vải màn buộc hai tay ông Y vào thành giường rồi lấy thêm 01 dây xích khác để xích hai chân ông Y vào thành giường rồi bà H cùng cháu P về nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, bà H và cháu P mang cơm, nước, cởi trói cho ông Y. Ông Y nói với cháu P là bị đau bụng và lấy tay xoa bụng nhưng bà H và cháu P không nói gì mà đi về nhà ngủ, để ông Y ở nhà bà H1 một mình. Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 17/7/2023, cháu P mang bánh mì, sữa cho ông Y nhưng ông Y không ăn. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày bà H tiếp tục mang canh xuống cho ông Y rồi đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 17/7/2023, bà Trần Thị H1 đến, phát hiện ông Y đã chết nằm trên nền nhà nên gọi bà Nguyễn Thị X đến giúp trình báo sự việc đến Công an xã H giải quyết.
- Bản kết luận giám định tử thi số 1104/KLGĐTT-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của tử thi Trần Ích Y: Mất máu do vỡ lách. Thời gian chết của nạn nhân Trần Ích Y sau bữa ăn cuối cùng trên 6 giờ. Thời gian chết của nạn nhân Trần Ích Y cách thời điểm khám nghiệm dưới 12 giờ”.
- Công văn số 413/CV-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T, nội dung: “Điếu cày bằng tre dài 65,5 cm, đường kính ngoài đầu ống 4,9 cm, đường kính trong đầu ống điếu 3,9 cm, đường kính ngoài của đuôi ống điếu 4,8 cm, đường kính trong của đuôi ống điếu 3,5 cm là vật tày cứng và có thể gây nên được vết bầm máu nằm ngang tại vùng thắt lưng bên trái tử thi Trần Ích Y.
Bản án sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ích M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ích M 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 31/10/2023.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 16/4/2024, bị cáo Trần Ích M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 18/4/2024, người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Ích M khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên xử và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bà Trần Thị H giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ích M và bà Trần Thị H.
Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo không nhận thức được hành vi của mình sẽ gây ra cái chết cho ông Y và cũng không muốn hậu quả xảy ra, bị cáo giữ nguyên toàn bộ lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo thành khẩn khai báo và rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa của bị cáo tranh luận: Bản án hình sự sơ thẩm chưa thực sự khách quan và thấu tình đạt lý; chưa xem xét toàn diện và đầy đủ nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội. Từ đó, dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của hành vi phạm tội và xác định tình tiết định khung hình phạt là quá nặng và nghiêm khắc, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Bà H tranh luận: Bà H cho rằng ông Y thường xuyên say xỉn té ngã và bị đánh do có hành vi gây rối, đập phá đồ đạc của người khác. Do đó, thể trạng sức khỏe của ông Y không tốt, cơ thể nhiều vết bầm tím. Bị cáo M có thực hiện hành vi dùng hung khí nguy hiểm để đánh 04 nhát vào cơ thể ông Y nhưng không phải là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Y. Bà H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M.
Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Trần Ích M thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 16/7/2023, tại nhà ở của bà Trần Thị H1 ở thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình, Trần Ích M đã có hành vi dùng tay phải cầm 01 chiếc điếu cày bằng gỗ, sơn màu nâu đen, kích thước (10x6) cm (là hung khí nguy hiểm) vụt 03 nhát vào vùng tay, chân, đùi trái làm sây sát da, bầm máu và 01 nhát vào vùng thắt lưng bên trái làm vỡ lách, tụ máu nhu mô lách của ông Trần Ích Y. Đến khoảng 11 giờ ngày 17/7/2023, ông Y chết vì mất máu do vỡ lách. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên toàn bộ lời khai đã khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Ích M, bà Trần Thị H thì thấy: Bị cáo M bực tức việc ông Í thường xuyên say xỉn, chửi đánh những người thân trong gia đình nên có hành vi dùng hung khí nguy hiểm đánh 04 nhát vào cơ thể ông Y trong đó có 01 nhát trúng vùng thắt lưng bên trái làm vỡ lách, tụ máu nhu mô lách của ông Y dẫn đến ông Y tử vong. Bị cáo M không có ý thức tước đi mạng sống của ông Y nhưng cũng không thấy trước được hậu quả chết người xảy ra. Từ đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên bị cáo M phạm tội “Cố ý gây thương tích”, có hậu quả “làm chết người” là tình tiết định khung tăng nặng, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo M có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo và bị hại có mối quan hệ là cha – con ruột, do đó, hành vi của của bị cáo M ngoài vi phạm pháp luật còn vi phạm nghiêm trọng giá trị đạo đức xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, xem xét đến nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo M 07 năm tù là đúng pháp luật. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo M, bà H và giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo bởi lẽ hình phạt tù đó đã tương xứng với hành vi của bị cáo.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Trần Ích M không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật, bà Trần Thị H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Trần Ích M và bà Trần Thị H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 08/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ích M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ích M 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 31/10/2023.
II. Về án phí: Áp dụng điểm a Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Ích M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 27/6/2024.
THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN –
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Thành Nguyễn Thị Thúy Hoàn
Chu Tuấn Vương
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND, VKSND, CA, THA huyện Hưng Hà; - Người kháng cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Tuấn Vương |