vanban.org

Bản án 45/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 18/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội dA: Tuyên bố các bị cáo Cao M Tài, Lê Hồng P; Trần Châu Thiên B, Lê Ngọc Đ M; Trương Hoàng Phúc, Phạm Quang D; Phạm A M; Trịnh Thế N; Nguyễn Thành Đ phạm tội Cướp tài sản .

Về áp dụng điều luật: Đối với Cao M Tài: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 54; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017): Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Min h T và dồng phạm có hành vi cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội dA: Tuyên bố các bị cáo Cao M Tài, Lê Hồng P; Trần Châu Thiên B, Lê Ngọc Đ M; Trương Hoàng Phúc, Phạm Quang D; Phạm A M; Trịnh Thế N; Nguyễn Thành Đ phạm tội Cướp tài sản .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST
Ngày: 18/03/2024

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa – Nguyên Phó bí thư Huyện Đoàn Huyện Vĩnh Cửu.

Ông Đặng Văn Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đ Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Vĩnh Cửu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đi tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Từ ngày 06 tháng 03 đến ngày 18 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/HSST ngày 30/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 30/01/2024; Thông báo thời gian tiếp tục phiên tòa số 25/TB-TA ngày 06/3/2024 và Thông báo dời phiên tòa số 26/TB-TA ngày 12/3/2024 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Cao M T; Giới tính: N.

Sinh ngày: 13/5/2004, tại t nh B c Giang.

Nơi đăng ký thường trú: p Đông Hải, x Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, t nh Đ

Nơi cư trú: Không xác định.

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học v n: Lớp 07/12.

Họ tên cha: Cao Văn Th - sinh năm 1975, còn sống.

Họ tên m : Lăng Thị B Tr - sinh năm 1978, còn sống.

Gia đình có 02 A em, bị cáo là th hai và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm gi từ ngày 20/9/2022 đến ngày 23/9/2023. Bị bị b t tạm giam ngày 12/10/2023 theo Lệnh số 1157/LB ngày 23/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện V. Bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: L Hồng P (khi phạm tội ở độ tuổi 16 năm 4 tháng 03 ngày); Giới tính: N.

Sinh ngày: 15/5/2006, tại t nh Đ.

Nơi cư trú: E466A, tổ 19, Khu phố 5, phường Long Bình, Th phố B, t nh Đ

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học v n: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh trường Nghề số 2 – thành phố B, t nh Đ.

Họ tên cha: Lê Đình M - sinh năm 1976, còn sống

Họ tên m : Lê Thị H - sinh năm 1977, còn sống

Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con th hai và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm gi ngày 27/5/2023, chuyển tạm giam ngày 02/6/2023 theo Lệnh số 797/LTG ngày 01/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Hồng P theo yêu cầu: Ông Võ ThA KH – Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Logic & Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí M:

Địa ch : Số 441/17, Điện Biên Phủ, phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí M. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Hồng P theo luật định: Bà Lê Mai – Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm tr giúp pháp lý t nh Đi. Có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Hồng P: Ông Lê Đình M, sinh năm 1976 và bà Lê Thị H, sinh năm 1977; địa ch : 466A, tổ 19, Khu phố 5, phường Long Bình, thành phố B, t nh Đi. Ông M và bà H có mặt. 3. Họ và tên: Trần Ch u Thi n B; Giới tính: N.

Sinh ngày: 23/4/2004, tại t nh Đ.

Nơi cư trú: 18A/3, khu phố 8B, phường Tân Biên, B, Đi

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Trình độ học v n: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Trần Văn Ch - sinh năm 1969, còn sống

Họ tên m : Trần Thị Lệ Th - sinh năm 1981, còn sống

Gia đình có 03 A em, bị cáo là con th nh t và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/9/2022, bị Tòa án nhân dân Th phố B, t nh Đ xử phạt 10 tháng cải tạo không giam gi về tội Cố ý gây tH tích tại bản án 461/2022/HSST ngày 29/9/2022, bản án này bị cáo chưa ch p hành.

Ngày 22/12/2022, bị Công an Th phố B, t nh Đ khởi tố về tội Tổ ch c sử dụng trái phép ch t ma túy .

Bị cáo đầu thú và bị tạm gi từ ngày 23/10/2022 đến ngày 01/11/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Th phố B thụ lý, giải quyết. Bị cáo có mặt. 4. Họ và tên: Phạm A M (Khi phạm tội có độ tuổi 15 năm 07 tháng 01 ngày đến 16 năm 07 tháng 01 ngày; Giới tính: N.

Sinh ngày: 16/11/2006, tại t nh C.

Nơi thường trú: khóm 4, thị tr n U M, huyện U M, t nh C

Nơi cư trú: p 6 - 7, x Thiện Tân, huyện V, t nh Đ

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật.

Trình độ học v n: Lớp 06/12; Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp.

Họ tên cha: Phạm Kiều A - sinh năm 1971, đ chết

Họ tên m : Trương Thị T - sinh năm 1975, còn sống

Gia đình có 03 A em, bị cáo là con th ba và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm gi ngày 29/5/2023, chuyển tạm giam ngày 01/6/2023 theo lệnh số 799/LTG ngày 01/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ. Bị cáo có mặt.

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Phạm A M: Bà Trương Thị T - sinh năm 1975; địa ch : p 6 - 7, x Thiện Tân, huyện V, t nh Đ. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm A M theo luật định: Bà Nguyễn Thị Hoài TH – Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm tr giúp pháp lý t nh Đi. Có mặt. 5. Họ và tên: Phạm Quang D (khi phạm tội ở độ tuổi 17 năm 06 tháng 08 ngày); Giới tính: N.

Sinh ngày: 10/3/2005, tại t nh Đăk Lăk.

Nơi thường trú: tổ 12, Khu phố 3A, phường Trảng Dài, thành phố B, t nh Đi

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học v n: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Phạm Xuân Ch - sinh năm 1980, còn sống

Họ tên m : Nh Thị Th- sinh năm 1981, còn sống

Gia đình có 02 A em, bị cáo là con th nh t và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm gi ngày 29/5/2023, chuyển tạm giam ngày 01/6/2023 theo lệnh số 798/LTG ngày 01/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đi. Bị cáo có mặt.

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Phạm Quang D: Ông Phạm Xuân Ch, sinh năm 1980 và bà Nh Thị Th, sinh năm 1981; địa ch : Tổ 12A, Khu phố 3A, phường Trảng Dài, thành phố B, t nh Đi. Bà Nho có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Ông Nguyễn Văn Cận – Luật sư Văn phòng Luật sư Như Sơn thuộc Đoàn Luật sư t nh Đi; địa ch : Số 360/1, Khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố B, t nh Đi. Có mặt. 6. Họ và tên: L Ngọc Đ M; Giới tính: N.

Sinh ngày: 02/9/2004, tại t nh Đ.

Nơi cư trú: Tổ 24, Khu phố 4C, phường Trảng Dài, thành phố B, t nh Đi

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học v n: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Lê Ngọc Á - sinh năm 1975, còn sống

Họ tên m : Đ Thị Bích N - sinh năm 1980, còn sống

Gia đình có 02 A em, bị cáo là con th nh t và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị b t tạm giam ngày 20/7/2023 theo Lệnh số 906/LB ngày 29/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện V. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Ông Nguyễn Văn Cận – Luật sư Văn phòng Luật sư Như Sơn thuộc Đoàn Luật sư t nh Đi; địa ch : Số 360/1, Khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố B, t nh Đi. Có mặt.

7. Họ và tên: Trịnh Th N (khi phạm tội ở độ tuổi 17 năm 24 ngày); Giới tính: N.

Sinh ngày: 24/8/2005, tại t nh Đ.

Nơi cư trú: p 6-7, x Thiện Tân, huyện V, t nh Đ

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học v n: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Trịnh Sơn Th - sinh năm 1976, còn sống

Họ tên m : Lưu Thị - sinh năm 1979, còn sống

Gia đình có 02 A em, bị cáo là th nh t và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và tạm gi ngày 29/5/2023, chuyển tạm giam ngày 01/6/2023 theo Lệnh số 800/LTG ngày 01/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Đ. Bị cáo có mặt.

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Trịnh Thế N: Ông Trịnh Sơn Th, sinh năm 1976 và bà Lưu Thị , sinh năm 1979; địa ch : p 6-7, x Thiện Tân, huyện V, t nh Đ. Ông Thủy và bà Út có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Thế N theo luật định: Bà Nguyễn Thị Lan – Tr giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm tr giúp pháp lý t nh Đi. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Ông Nguyễn Văn Cận – Luật sư Văn phòng Luật sư Như Sơn thuộc Đoàn Luật sư t nh Đi; địa ch : Số 360/1, Khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố B, t nh Đi. Có mặt. 8. Họ và tên: Trương Ho ng Ph (khi phạm tội ở độ tuổi 17 năm 11 tháng 26 ngày; Giới tính: N.

Sinh ngày: 14/10/2004, tại t nh Đ.

Nơi cư trú: 38C/11, khu phố 8, phường Long Bình, Th phố B, t nh Đi.

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Trình độ học v n: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp.

Họ tên cha: Trương Thế V - sinh năm 1977, còn sống

Họ tên m : Phạm Thị H - sinh năm 1981, còn sống

Gia đình có 05 A em, bị cáo là con th nh t và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Đầu thú và bị tạm gi từ ngày 23/10/2022 đến ngày 01/11/2022. Ngày 30/5/2023, bị cáo tiếp tục đầu thú và bị tạm gi , chuyển tạm giam ngày 01/6/2023 theo lệnh số 794/LTG ngày 01/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện V. Bị cáo có mặt.

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Trương Hoàng Ph: Ông Trương Thế V, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1981; địa ch : 38C/11, khu phố 8, phường Long Bình, Th phố B, t nh Đi. Bà H có mặt; ông V v ng mặt. 9. Họ và tên: Ngu n Th Đ (Đ Pate); Giới tính: N.

Sinh ngày: 13/8/2004, tại t nh Đ.

Nơi cư trú: 6D/52, khu phố 11, phường Hố Nai, thành phố B, t nh Đi

Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Trình độ học v n: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: Không.

Họ tên cha: Nguyễn Ngọc Th - sinh năm 1971, còn sống

Họ tên m : V Thị C - sinh năm 1971, còn sống

Gia đình có 04 chị em, bị cáo là còn th tư và chưa có v con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 10/10/2022, bị Tòa án nhân dân Th phố B, t nh Đ khởi tố về tội Gây rối trật tự công cộng . Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 742/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố B, t nh Đi đ xử phạt bị cáo Đ. 01 năm 06 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng . Bị cáo đ có Quyết định thi hành án số 112/2024/QĐ-CA ngày 31/01/2024 đối với bản án này.

Bị cáo đầu thú và bị tạm gi từ ngày 23/10/2022 đến ngày 01/11/2022. Hiện đang bị áp dụng biện pháp C m đi kh i nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Thành Đ: Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1971 và bà V Thị C, sinh năm 1970; địa ch : 6D/52, khu phố 11, phường Hố Nai, thành phố B, t nh Đi. Bà C có mặt; ông Th v ng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Ông Nguyễn Văn Cận – Luật sư Văn phòng Luật sư Như Sơn thuộc Đoàn Luật sư t nh Đi; địa ch : Số 360/1, Khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố B, t nh Đi. Có mặt.

Bị hại:

1.

A Hoàng Đ Ngọc A, sinh năm 2005; địa ch : p 6, x Sông Trầu, huyện Trảng Bom, t nh Đi. (v ng mặt)

2. A Nguyễn Lê ThA H, sinh năm 2005; địa ch : Số 33, Nguyễn Du, Khu phố 1, thị tr n Trảng Bom, huyện Trảng Bom, t nh Đi (có đơn xin v ng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lế H Đ, sinh năm 1993; địa ch : Tổ 5, p 6, x Sông Trầu, huyện Trảng Bom, t nh Đi. Có mặt.

2. A Lê Viết S, sinh năm 2004; địa ch : Tổ 5, p 6, x Sông Trầu, huyện Trảng Bom, t nh Đi. Có mặt.

Người làm chứng: A Tô M H, sinh năm 2004; địa ch : Khu phố 9, phường Tân P, thành phố B, t nh Đi. V ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án đư c tóm t t theo cáo trạng như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 18/9/2022, Trần Châu Thiên B, Trương Hoàng Phúc, Nguyễn Thành Đ, Phạm Quang D, Trịnh Thế N, Cao M Tài, Lê Hồng P, Phạm A M, Lê Ngọc Đ M, Võ M Thành và DA V (không rõ họ, địa ch ) đến uống cà phê tại quán (không có tên) thuộc x Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, t nh Đi. Trong lúc uống cà phê, cả nhóm bàn bạc thống nh t mang theo dao tự chế đến bờ đập thuộc p 1, xã H Liêm, huyện Vĩnh Cửu, t nh Đi để cướp xe mô tô của nh ng người đua xe. DA V cầm theo con dao tự chế cán g , lưỡi kim loại màu tr ng, dài khoảng 50-60cm cùng cả nhóm điều khiển xe mô tô đến nhà Võ M Thành tại khu phố 4, thị tr n Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, t nh Đi l y thêm hung khí. Th vào nhà l y dao và kiếm rồi đưa cho P 01 con dao (giống dao của DA V ), đưa cho D 01 cây kiếm hình trụ tròn bằng kim loại, còn Th cầm 01 con dao có kiểu dáng hình con cá mập. Sau khi chuẩn bị xong hung khí cả nhóm trao đổi thống nh t như sau: 03 người đi trên 01 xe mô tô, người cầm dao xuống xe đe dọa người đua xe hoảng s b chạy để lại xe, người không cầm dao xuống l y xe mô tô, còn người điều khiển xe quay đầu xe s n sàng chở đồng bọn tẩu thoát. Sau đó, Trịnh Thế N điều khiển xe Vario (không rõ biển số) của D chở Đ ngồi gi a, D ngồi sau; B điều khiển xe Exciter màu tr ng (không rõ biển số) của B chở Trương Hoàng Ph; M điều khiển xe mô tô Vision (không rõ biển số) của DA V chở M Th và V ; Phạm A M điều khiển xe mô tô Vario màu tr ng (không rõ biển số) của M chở T và P cùng nhau đến bờ đập thuộc p 1, xã H Liêm, huyện Vĩnh Cửu, t nh Đi.

Vào thời điểm này có Tô M H - sinh năm 2004 điều khiển xe mô tô biển số 60H1- 352.35 chở Nguyễn Lê ThA H - sinh năm 2003, thường trú 33 Nguyễn Du, thị tr n Trảng Bom, huyện Trảng Bom; Lê Viết S - sinh năm 2004 điều khiển xe Exciter biển số 60C1- 903.11 (xe này Sử mư n của A ruột tên Lê H Đ - sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú p 6, x Sông Trầu, huyện Trảng Bom), Hoàng Đ Ngọc A - sinh năm 2005 cùng ngụ p 6, x Sông Trầu, huyện Trảng Bom, t nh Đi điều khiển xe 60H1-358.59 (xe của S), Linh chưa rõ họ, địa ch điều khiển xe mô tô không rõ biển số trên đường đến bờ đập để cùng nhau đua xe. Do xe mô tô Sử điều khiển bị chết máy nên cả nhóm dừng lại. S qua điều khiển xe biển số 60H1-352.35 chở H, còn H qua xe của S. Ngọc A điều khiển xe biển số 60H1-358.59 dùng chân đẩy xe mô tô 60C1- 903.11 H điều khiển cùng chạy đến bờ đập dừng lại, kiểm tra xe S nH không khởi động đư c, nên cả nhóm thống nh t quay về đư c một đoạn đường thì gặp nhóm Tài đi tới ngăn cản. Lúc này M điều khiển xe chở P, Tài lao đến chặn đầu xe mô tô Exciter biển số 60C1- 903.11 do H cầm lái và đư c xe Ngọc A điều khiển đẩy sau nên nhóm S dừng lại. P nhảy xuống giơ dao dọa chém làm H hoảng s b chạy để lại xe. Phúc ngồi trên xe hô hào; Thành, D và DA V xuống xe cầm dao quơ qua, quơ lại dọa chém nhóm S. M, N và Đ quay đầu xe s n sàng chở đồng bọn tẩu thoát. Ngọc A đang điều khiển xe Wave ZX biển số 60H1-358.59 cạnh xe của H th y nhóm T dùng dao uy hiếp hoảng s nên để lại xe mô tô thoát thân. Khi nhóm bị hại b chạy, Tài đến d t xe mô tô biển số 60C1-903.11 đưa cho B cầm lái, P l y xe mô tô biển số 60H1-358.59 tự điều khiển rồi cả nhóm rời kh i hiện trường.

Trên đường nhóm bị hại b chạy, S điều khiển xe mô tô 60H1-352.35 chở H chạy trước nhóm Cao M T và ẩn n p trong đường h m chờ nhóm của T đi qua để t n công l y lại xe. Một lúc sau, H gọi điện nhờ S chở về nên S, H quay xe lại bờ đập đón H và Ngọc A cùng đi. Trên đường đi nhóm Sử gặp Võ Thành N - sinh năm 2002, trú tại p 1, x H Liêm, huyện Vĩnh Cửu đi cùng 03 người không rõ họ tên, địa ch . S nhờ nhóm Võ Thành N giúp l y lại xe mô tô biển số 60H1-358.59 và 60C1-903.11 đ bị nhóm Tài chiếm đoạt, N đồng ý.

Nhóm Cao M Tài sau khi chiếm đoạt đư c xe mô tô đ chuyển giao hung khí cho Võ M Thành c t gi và cùng nhau quay về. Khi nhóm Tài về đến địa phận x Tân An, huyện Vĩnh Cửu thì B bị ng xe nên DA V và Trương Hoàng Ph đưa B đến Bệnh viện đa khoa Đi băng bó, ch a trị vết tH, còn D điều khiển xe Exciter của B dùng chân đẩy xe mô tô biển số 60C1-903.11 do Tài cầm lái mang về nhà Tài tại p Vàm, x Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu c t gi u. Sau đó Tài điều khiển xe Vario cùng P, M đem xe mô tô 60H1-358.59 đến nhà Trịnh Thế N tại p 6-7 x Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu. Khi đến trước cổng nhà Trịnh Thế N, nhóm Võ Thành N đuổi kịp nên Tài, P, M b chạy và để lại xe Vario của D và xe mô tô 60H1-358.59. Nhóm Võ Th N đập phá làm hư h ng xe mô tô của D rồi l y xe mô tô biển số 60H1-358.59 về trả lại cho S. Khi nhóm của Võ Th N b đi, Trịnh Thế N và D quay lại nhà của Thế N rồi D d t xe Vario của D đi về.

Cao M Tài về nhà mình tại p Vàm, x Thiện Tân dùng tua vít tháo gỡ mặt nạ màu xA lá cây, phần nhựa phía trước màu đen xe mô tô Exciter biển số 60C1-903.11 của Lê Viết S, rồi v t b tại bụi chuối gần nhà, sau đó c t gi u xe mô tô trong phòng. Cuối tháng 10/2022, Cao M Tài bán xe mô tô Exciter biển số 60C1-903.11 cho người không rõ tên, địa ch đư c 3.200.000 đồng và tiêu xài hết.

Ngày 20/9/2022, Cao M Tài đến Công an huyện Vĩnh Cửu đầu thú khai nhận có tham gia đi cùng, nH không thừa nhận bàn bạc cướp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đ hủy b biện pháp tạm gi đối với Tài. Ngày 12/10/2023, Cao M T bị b t theo quyết định truy n khi đang lẩn trốn tại x Hàng Gòn, Th phố Long Khánh, t nh Đ.

Từ ngày 23/10/2022 đến 30/5/2023, lần lư t Nguyễn Thành Đ, Trần Châu Thiên B, Lê Hồng P, Trịnh Thế N, Phạm Quang D, Phạm A M, Trương Hoàng Phúc đến Công an thị tr n Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Riêng Võ M Thành hiện đang b trốn.

Vật ch ng thu gi : xe mô tô biển số 60H1-358.59; 01 mặt nạ màu xA lá cây, 01 dàn nhựa màu đen phía trước xe Exciter, 01 biển số 60C1-903.11 tại nhà Cao M Tài; 01 con dao tự chế cán dài 1,86m, lưỡi dao dài 41cm; 01 con dao bằng kim loại cán dài 1,25m, lưỡi dao dài 44 cm tại nhà Võ M Thành.

- Đối với xe mô tô Vario màu đen (không rõ biển số) của Phạm Quang D; xe mô tô Vision (không rõ biển số) của DA V ; xe mô tô Exiciter màu tr ng (không rõ biển số) của Trần Châu Thiên B và xe mô tô Vario màu tr ng (không rõ biển số) của Phạm A M, các bị can khai nhận: sau khi S dụng làm pH tiện thực hiện hành vi phạm tội đ bán cho người khác không rõ lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu không thu gi đư c.

- Đối với 04 con dao tự chế sử dụng cướp T sản, các bị can khai nhận đ giao cho Võ M Thành c t gi . Tiến hành khám xét nhà của Thành không phát hiện 04 con dao nêu trên, hiện Thành đang b trốn nên không có căn c truy tìm để thu gi vật ch ng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-ĐGTS ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện V xác định giá trị xe mô tô Wave ZX biển số 60H1-358.59 là 15.000.000 đồng; xe mô tô Exciter biển số 60C1-903.11 là 25.000.000 đồng.

Về nguồn gốc các xe mô tô:

- Xe mô tô biển số 60H1-358.59 do Lê H Đ - sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú p 6, x Sông Trầu, huyện Trảng Bom đ ng tên sở h u. Ngày 18/9/2022, Lê Viết S mư n xe mô tô của Đ đi chơi và bị cướp.

Xe mô tô biển số 60C1- 903.11 do Nguyễn Thị Ánh Mai - sinh năm 1995, thường trú p 8, x Bàu Cạn, huyện Long Thành đ ng tên sở h u. Ngày 22/08/2019, Mai bán cho Đặng Văn Lộc - sinh năm 1993, thường trú p 6, x Sông Trầu, huyện Trảng Bom. Ngày 24/02/2021, Lộc bán lại cho Lê Viết S (việc mua bán gi a Mai, Lộc và S chưa thực hiện thủ tục sang tên).

Quá trình điều tra xác định Phạm Quang D phạm tội ở độ tuổi 17 năm 06 tháng 08 ngày; Trịnh Thế N phạm tội phạm tội ở độ tuổi 17 năm 24 ngày; Trương Hoàng Ph phạm tội ở độ tuổi 17 năm 11 tháng 26 ngày; Lê Hồng P phạm tội ở độ tuổi 16 năm 4 tháng 03 ngày; Võ M Thành phạm tội ở độ tuổi 17 năm 04 tháng 02 ngày.

Phạm A M khai sinh trễ hạn và không thu thập đư c gi y ch ng sinh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đ trưng cầu giám định về độ tuổi. Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 0847/KLGDĐT ngày 18/8/2023 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đi kết luận: Phạm A M có độ tuổi là 16 năm 06 tháng đến 17 năm 06 tháng kể từ ngày giám định 17/8/2023. Như vậy tại thời điểm phạm tội, Phạm A M có độ tuổi 15 năm 07 tháng 01 ngày đến 16 năm 07 tháng 01 ngày.

+ Quá trình điều tra xác định bị can Nguyễn Thành Đ đư c Ủy ban nhân dân phường Hố Nai, thành phố B c p Gi y xác nhận khuyết tật (động kinh). Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện đ trưng cầu giám định tâm thần. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 658/KL ngày 14/9/2023 của Giám định viên Viện pháp y tâm thần Trung ương B kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn/Động kinh (F 07.8/G40 –ICD.10).

- Về khả năng nhận th c và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án, đương sự bị hạn chế khả năng nhận th c và điều khiển hành vi.

- Hiện tại: Đương sự đủ khả năng nhận th c và điều khiển hành vi.

Xử lý vật ch ng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đ giao trả: xe mô tô biển số 60H1-358.59 cho Lê H Đ; 01 mặt nạ màu xA lá cây, 01 dàn nhựa màu đen phía trước xe Exciter, 01 biển số 60C1-903.11 cho Lê Viết S.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển giao Công an huyện tiếp tục xác M, xử lý 01 con dao tự chế cán dài 1,86m, lưỡi dao dài 41cm; 01 con dao bằng kim loại cán dài 1,25m, lưỡi dao dài 44 cm đư c thu gi tại nhà Võ M Thành và không liên quan đến vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo Trương Hoàng Phúc, Nguyễn Thành Đ, Lê Ngọc Đ M, Phạm Quang D, Trịnh Thế N, Lê Hồng P, Phạm A M, Trần Châu Thiên B đ thay mặt các bị cáo bồi thường thiệt hại cho A Lê Viết Sử theo yêu cầu; bị cáo Cao M T quá trình điều tra, truy tố chưa bồi thường và A Sử; A Ngọc A, A ThA H c ng không yêu cầu T và các bị cáo khác bồi thường thêm. Tuy nhiên, tại phiên tòa, dưới sự tác động của bị cáo Tài, gia đình bị cáo Tài (bà Lăng Thị B Trinh) đ đ ng ra bồi thường thêm cho A S số tiền 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng).

Tại phiên tòa A Lê Viết S c ng khẳng định đã làm đơn b i nại tại cơ quan điều tra và xin giảm hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo c ng như bị hại; người liên quan không có ý kiến về nội dung kết luận giám định và các v n đề có liên quan đến xử lý vật ch ng.

Ý kiến trA luận của đại diện h p pháp của các bị cáo tại phiên tòa đối với hành vi phạm tội của các bị cáo: Đại diện h p pháp của các bị cáo tại phiên tòa ngày 06/3/2024 khai nại về việc các lời khai của các bị cáo chưa thành niên không có sự tham gia trực tiếp của họ, ký h p th c hóa. Tuy nhiên, qua đ u trA, đối ch t trực tiếp với Cán bộ điều tra; Điều tra viên thì tại phiên tòa ngày 18/3/2024 hoàn toàn thống nh t với tội dA mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự; xác định quá trình ch ng kiến việc l y lời khai đối với các bị cáo tại cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã đư c thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đồng thời cho rằng các bị cáo phạm tội không mang tính tổ ch c, bàn bạc phân công nhiệm vụ cụ thể và để nghị xem xét các tình tiết giảm nh của các bị cáo đã cung c p tại hồ sơ vụ án để xử phạt cho các bị cáo một m c án th p nh t, tạo điều kiện cho các bị cáo đư c sớm hòa nhập cộng đồng vì tuổi đời các bị cáo còn quá nh .

Ý kiến trA luận của người bào ch a của các bị cáo:

- Luật sư Võ ThA KH – bào ch a cho bị cáo Lê Hồng P thống nh t về tội dA Cướp tài sản mà Viện kiểm sát đã truy tố, tuy nhiên cho rằng việc cáo trạng quy kết các bị cáo c ng như bị cáo P ở tình tiết phạm tội có tổ ch c là chưa chính xác và rõ ràng, bởi lẽ quá trình điều tra và tại phiên tòa cho th y việc phân công vai trò, nhiệm vụ của các bị cáo trong việc thực hiện tội phạm r t mơ hồ, ch mang tính bộc phát, mang tính đồng phạm giản đơn. Mặt khác, tài sản mà bị cáo P chiếm đoạt đư c sau đó đã bị nhóm của Võ Thành N l y lại trả cho bị hại, nên hành vi phạm tội của bị cáo là chưa Đ, do đó đề nghị áp dụng thêm Điều 15 và khoản 3 Điều 102 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo P.

- Luật sư Nguyễn Văn Cận bào ch a cho các bị cáo Lê Đ Ngọc M; Trịnh Thế N; Nguyễn Thành Đ và Phạm Quang D c ng thống nh t với tội dA truy tố đối với các bị cáo này, tuy nhiên xét th y việc quy kết các bị cáo phạm tội mang tính tổ ch c là chưa rõ ràng; phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, đóng vai trò giúp s c trong vụ án nH không đáng kể. Do đó, đề nghị xem xét lại cho các bị cáo, đồng thời áp dụng các tình tiết giảm nh mà các bị cáo có để giảm nh m c hình phạt cho các bị cáo với m c án th p hơn m c án mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đề nghị theo các quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

- Các Tr giúp viên pháp lý của các bị cáo tại phiên tòa thống nh t với tội dA truy tố, trình bày các tình tiết giảm nh cho các bị cáo; xem xét cho hoàn cảnh cùa các bị cáo cha m ly hôn; có bị cáo chì còn m m t cha; tH sự chăm sóc, giáo dục đầy đủ từ người thân; tuổi đời còn nh nên nhận th c pháp luật còn chưa đầy đủ và để nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo một m c án th p hơn m c án mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Tại Bản cáo trạng số 01/CT/VKSVC ngày 01/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đ truy tố các bị cáo Cao M T, Trần Châu Thiên B, Lê Hồng P, Lê Ngọc Đ M, Phạm A M, Trịnh Thế N, Phạm Quang D, Trương Hoàng Phúc, Nguyễn Thành Đ về tội Cướp tài sản theo điểm a, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu gi nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau m c án đối với các bị cáo như sau:

1. Cao M Tài: đề nghị xử phạt bị cáo m c án từ 07 năm 06 tháng tù giam đến 08 năm tù giam.

2. Lê Hồng P: đề nghị xử phạt bị cáo m c án từ 05 năm tù giam đến 05 năm 06 tháng tù giam.

3. Trần Châu Thiên B: 07 năm tù giam đến 07 năm 06 tháng tù giam. Tổng h p hình phạt của bản án này với bản án đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân Thành phố B, buộc bị cáo phải ch p hành chung.

4. Trương Hoàng Phúc: 04 năm tù giam đến 04 năm 06 tháng tù giam.

5. Lê Đ Ngọc M: 05 năm tù giam đến 05 năm 06 năm tù giam.

6. Phạm Quang D: 04 năm tù giam đến 04 năm 06 tháng tù giam.

7. Phạm A M: 02 năm tù giam đến 02 năm 06 tháng tù giam.

8. Trịnh Thế N: 03 năm tù giam đến 03 năm 06 tháng tù giam.

9. Nguyễn Thành Đ: 02 năm tù giam đến 02 năm 06 tháng tù giam. Tổng h p hình phạt của bản án này với bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân Thành phố B để buộc bị cáo phải ch p hành chung.

Về xử lý vật ch ng:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra đ giao trả: xe mô tô biển số 60H1-358.59 cho Lê H Đ; 01 mặt nạ màu xA lá cây, 01 dàn nhựa màu đen phía trước xe Exciter, 01 biển số 60C1-903.11 cho Lê Viết S.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển giao Công an huyện tiếp tục xác M, xử lý 01 con dao tự chế cán dài 1,86m, lưỡi dao dài 41cm; 01 con dao bằng kim loại cán dài 1,25m, lưỡi dao dài 44 cm đư c thu gi tại nhà Võ M Thành và không liên quan đến vụ án.

- Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyên bồi thường của bị cáo Tài tại phiên tòa cho A Lê Viết S.

- Về án phí hình sự: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Các bị cáo tự bào ch a: Tại phiên tòa ngày 18/3/2024 các bị cáo thống nh t với tội dA Cướp tài sản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu t nh Đi đã truy tố; xác định các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra đư c thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có sự ép cung, mớm cung, nhục hình, việc khai báo là tự nguyện; các Quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng có ch sai chính tả, nH đã đư c làm rõ, nh ng sai sót đó không làm thay đổi bản ch t của vụ án. Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo ở nội dung các bị cáo không bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể với nhau để đi cướp tài sản, việc cướp tài sản là do bộc phát và nh t thời mà thôi.

Căn c vào các ch ng c và tài liệu đ đư c thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào kết quả trA luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ch ng c , ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại; người có quyền l i và nghĩa vụ; đại diện h p pháp của các bị cáo; người bào ch a cho các bị cáo; Tr giúp viên pháp lý của các bị cáo và người làm ch ng; lời trình bày của Điều tra viên, Cán bộ điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đư c triệu tập đến tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có ý kiến về các quyết định đ thực hiện. Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 06/3/2024, các bị cáo Phạm Quang D, Phạm A M, Nguyễn Thành Đ, Lê Ngọc Đ M; Trương Hoàng Phúc; Trịnh Thế N; Trần Châu Thiên B khai nại lời khai các bị cáo nhận tội Cướp tài sản là do Điều tra viên và Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra - ông an huyện Vĩnh Cửu hướng dẫn khai; bị cáo Cao M Tài; Lê Hồng P thay đổi lời khai thừa nhận việc cướp tài sản là hai bị cáo chủ động bàn bạc với nhau và tự thực hiện, không có sự bàn bạc, tổ ch c cùng các bị cáo khác; Đại diện h p pháp các bị cáo Phạm Quang D, Phạm A M, Nguyễn Thành Đ, Lê Ngọc Đ M; Trương Hoàng Phúc; Trịnh Thế N; Trần Châu Thiên B cho rằng không đư c trực tiếp tham gia cùng các bị cáo khi cán bộ điều tra l y lời khai; ch ký có tại hồ sơ là ch ký h p th c hóa. Bị cáo Lê Ngọc Đ M cho rằng ngày 22/7/2023, bị cáo mới đư c bàn giao từ Sư đoàn Bộ Binh 5 nơi bị cáo đang thực hiện nghĩa vụ Quân sự về Công an huyện Vĩnh Cửu, nH ngày 23/6/2023 đ có lời khai của bị cáo tại đây là không đúng. Ngoài ra, mâu thuẫn về lời khai của các bị cáo c ng chưa đư c đối ch t trong giai đoạn điều tra. Để làm rõ các nội dung mà các bị cáo, đại diện h p pháp của các bị cáo trình bày tại phiên Tòa. Tòa án đ triệu tập Điều tra viên, Cán bộ điều tra đư c phân công điều tra vụ án đến tham gia phiên tòa; cho cách ly để đối ch t lời khai gi a các bị cáo. Tại biên bản làm việc ngày 12/3/2024 tại Sư đoàn Bộ Binh 5 và đơn giải trình của Cán bộ điều tra ngày 06/3/2024 đ làm rõ đư c việc có lời khai của bị cáo Lê Ngọc Đ M tại Công an huyện Vĩnh Cửu vào ngày 23/6/2023 là do sự nhầm lẫn về địa điểm thực hiện l y lời khai; ngoài nội dunng lầm lẩn trên thì các nội dung khác đều đư c thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; Đối với các khai nại khác về việc mớm cung, ép buộc; hoặc h p th c hóa ch ký qua đối ch t làm việc tại Tòa gi a bị cáo với Điều tra viên; cán bộ điều tra; gi a đại diện h p pháp các bị cáo với Điều tra viên; Cán bộ điều tra đều thể hiện lời khai nại là không có căn c c ng như không có tài liệu, ch ng c để ch ng M. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

Về tư cách tham gia tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố; dA sách yêu cầu triệu tập tham gia phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu xác định A Lê Viết S là người bị hại; A Lê H Đ là người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan; A Hoàng Đ Ngọc A và A Nguyễn Lê ThA H ch là người làm ch ng là chưa phù h p với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bởi lẽ trong vụ án này Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội Cướp tài sản , đây là loại tội phạm có quy định về c u thành tội phạm đặc trưng, cụ thể về hành vi phải có sự tác động dùng v lực hoặc đe dọa dùng v lực lên bị hại ngay t c kh c. Như vậy, tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi cướp xe thì hai A Hoàng Đ Ngọc A và Nguyễn Lê ThA H đều là người đang trực tiếp quản lý và điều khiển hai tài sản là các xe mô tô bị chiếm đoạt; A Lê Viết S là chủ xe nH đang ở một khoảng cách xa nơi các xe bị chiếm đoạt; đồng thời c ng không nhìn th y đư c việc các bị cáo l y xe (theo lời khai tại phiên tòa của A Lê Viết S và lời khai của các A Ngọc A, ThA H tại cơ quan điều tra). Do đó, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn c vào quy định của pháp luật về tư cách tham gia tố tụng xác định lại tư cách bị hại là A Hoàng Đ Ngọc A; A Nguyễn Lê ThA H; còn A Lê Viết S ch là người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan trong vụ án để họ thực hiện đúng và quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về việc xét xử vắng mặt bị hại A Hoàng Đỗ Ngọc A; A Nguyễn Lê ThA H; người làm chứng A Tô M H xét thấy: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đ tiến hành l y lời khai của các A Hoàng Đ Ngọc A, Lê Nguyễn ThA H đầy đủ, có sự tham gia của người giám hộ của A Ngọc A; các lời khai đều thể hiện rõ tài sản bị thiệt hại là tài sản thuộc quyền sở h u của A Lê Viết S và Lê H Đ; các A Ngọc A; ThA H c ng không bị tH tích gì; không m t tài sản gì nên không có yêu cầu gì trong vụ án. Đối với người làm ch ng Tô M H về lời khai c ng đ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đ thực hiện đầy đủ thủ tục triệu tập A Ngọc A; A ThA H và A H đến tham gia phiên tòa theo đúng quy định nH họ vẫn v ng mặt; A ThA H đã có đơn xin xét xử v ng mặt. Xét th y việc v ng mặt của các A Ngọc A, ThA H và M H không làm ảnh hưởng đển viếc xét xử vụ án. Do đó, căn c quy định tại các Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử v ng mặt đối với bị hại và người làm ch ng.

. Về h nh vi bị tru tố, tội dA và các tình ti t li n quan đ n việc qu t định hình phạt:

Tại phiên tòa ngày 06/3/3024, các bị cáo Cao M Tài; Lê Hồng P khai nại về việc không cùng bàn bạc, tổ ch c với các bị cáo khác để thực hiện việc Cướp tài sản ; các bị cáo còn lại chối tội Cướp tài sản và ch cho rằng mình phạm tội Gây rối trật tự công cộng .

Tuy nhiên, qua nghiên c u hồ sơ vụ án, đối cH lời khai của các bị cáo với các tài liệu ch ng c có tại hồ sơ vụ án, đối cH với lời khai của người bị hại, người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan, người làm ch ng, lời trình bày của Điều tra viên, Cán bộ điều tra đư c phân công điều tra vụ án và toàn bộ diễn biến phiên tòa công khai ngày 18/3/2024, xét th y: Các bị cáo tụ tập với nhau (11 người, trong đó có hai đối tư ng là Võ M Tài và DA V đ b trốn), thời gian tụ tập với nhau vào lúc rạng sáng sau đó rủ nhau đi lên bờ đập H Liêm để xem đua xe. Theo đó các bị cáo khai đi xem đua xe nH lại chuẩn bị hung khí, chở nhau từ 3 người trên các xe mô tô đi chuyển đến khi vực bờ đập H Liêm (địa điểm này không phải là địa điểm công cộng) mà là nơi thuộc quyền quản lý riêng của Thủy điện Trị An, không có dân cư sinh sống tại đây. Thời gian thực hiện tội phạm lại vào lúc rạng sáng, khu vực không có đèn cH sáng; Các bị cáo khai có nhìn th y đối tư ng Thành Bé mà theo các bị cáo là người có mâu thuẫn từ lần đua xe trước nH lời khai này ch là một phía từ nhóm bị cáo, không có đối ch ng để ch ng M; các bị cáo B, D tại phiên tòa ngày 06/3/2024 khai khi đến nơi nhìn th y nhóm Thành Bé nên mới xông vào chém, đánh để ch ng M cho việc mục đích đến hiện trường là nhằm giải quyết mâu thuẫn, nH đến phiên tòa ngày 18/3/2024 lại khai là không ch c ch n có th y hay không; bị cáo Phúc khai do nhìn th y DA V ; Võ M Thành nhảy xuống đánh Thành Bé nên bị cáo c ng t p xe vào nhóm bị hại và ngồi trên xe để la hét, tuy nhiên lời khai của D tại phiên tòa ngày 18/3/2024 khẳng định Võ M Tài và DA V chưa từng biết mặt Thành Bé trước đó. Từ đó, xét lời khai của các bị cáo đều không phù h p và mâu thuẫn với bối cảnh sự việc đư c ghi nhận vì thời điểm gây án theo hồ sơ thể hiện trên bờ đập tập trung nhiều đối tư ng xem đua xe (khoảng 30-40) người, ánh sáng để quan sát lại không đủ, bối cảnh h n loạn, nhóm bị hại là nhóm gần nhóm bị cáo nh t nH lại không có ai tên Thành Bé ; bị hại xác định hoàn toàn không quen biết; không mâu thuẫn với ai trong nhóm bị cáo. Ngoài ra khi tới nơi, nhóm bị cáo trong đó có Cao M Tài; Trần Châu Thiên B; Trương Hoàng Phúc; Lê Hồng P và Phạm Quang D cùng Võ M Tài; DA V (đ b trốn) có hành vi ngay lập t c t p vào đầu xe phía bị hại; cH đèn pha, cầm hung khí đe dọa, la hét bằng nh ng lời nói hăm dọa Ai cho tụi bay đua xe ở đây! ; mặc dù không gây ra tH tích nH nh ng hành vi hung hăng từ phía các bị cáo đ ngay lập t c khiến các bị hại lo s phải b xe tại hiện trường để thoát thân. Kết quả sau đó các bị cáo Tài; B; P l y xe đem về nhà c t gi u và phi tang các hung khí đ S dụng; Cao M Tài sau đó đ bán xe Exiter l y tiền tiêu xài và b trốn phải truy n ; còn P không l y đư c xe Wave là ngoài mong muốn.

Như vậy, xét về mặt c u thành tội phạm của tội Cướp tài sản đư c quy định trong BLHS đ đủ quy kết các bị cáo phạm tội như cáo trạng truy tố.

Lê Ngọc Đ M; Phạm A M; Nguyễn Thành Đ; Trịnh Thế N, Trương Hoàng Phúc; Phạm Quang D; Trần Châu Thiên B tại phiên tòa ngày 06/3/2024 chối tội cướp, ch thừa nhận có đi cùng các bị cáo khác; B khai việc cầm hung khí ch để phòng thân; M khai chở đồng bọn nH không hay biết gì; M và Đ ch đi cùng, không bàn bạc việc cướp tài sản, việc cướp là do Tài và P tự thực hiện. Tuy nhiên, như đ phân tích, đánh gía nêu trên. Hành vi của các bị cáo là hành vi giúp s c cho đồng phạm, các bị cáo biết việc chuẩn bị hung khí để đi lên bờ đập; khi các bị cáo khác thực hiện hành vi đe dọa bị hại để l y xe thì nh ng bị cáo còn lại c ng không phản đối mà còn phụ giúp đưa xe về nhà c t gi u; c ng chưa từng có hành vi tố giác tội phạm. Đây loại tội phạm có c u thành hình th c, nên hậu quả thiệt hại về vật ch t xảy ra không phải là điều kiện b t buộc; các bị cáo khác tham gia với vai trò chở; la hét; có mặt tại hiện trường chính là sự giúp s c về mặt lực lư ng và cổ v tinh thần cho các bị cáo đóng vai trò thực hành trong vụ án; đồng thời c ng tạo sự lo s cho phía bị hại khi nhóm bị cáo quá đông, còn mang theo hung khí. Do đó, các bị cùng phải chịu trách nhiệm chung về tội Cướp tài sản nH có cân nh c, phân hóa vai trò tham gia trong vụ án.

Từ đó, xét nội dung bản cáo trạng số 01/CT/VKSVC ngày 01/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đ truy tố các bị cáo Cao M T, Trần Châu Thiên B, Lê Hồng P, Lê Ngọc Đ M, Phạm A M, Trịnh Thế N, Phạm Quang D, Trương Hoàng Phúc, Nguyễn Thành Đ về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn c , đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với tình tiết định khung hình phạt phạm tội có tổ ch c như truy tố là chưa đủ căn c vì qua đ u trA tại các phiên tòa ngày 06/3/2024 và ngày 18/3/2024 xét th y các bị cáo khai không thống nh t về nơi bàn bạc đi cướp; khi thực hiện người đi trước, người đi sau; người nghe người không nghe; nghe nH không biết ai nói; không ch c ch n về hành vi mà các bị cáo khác đã cùng thực hiện; sau khi thực hiện tội phạm thì ngoài bị cáo Tài; P; B l y xe về còn nh ng bị cáo khác b đi kh i hiện trường cho đến khi sự việc bị nhóm bị hại trình báo và chính quyền địa pH xử lý. Từ đó cho th y việc quy kết cho rằng các bị cáo tụ tập bàn bạc, thống nh t đồng thời phân công nhiệm vụ cho từng người để cùng thực hiện tội phạm là chưa đủ cơ sở v ng ch c.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm đến quyền sở h u tài sản của người khác; xâm phạm nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự x hội tại địa pH; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn với m c án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe tội phạm và phòng ngừa chung.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Xét đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn gi a các bị cáo, cùng có ý th c thực hiện tội phạm nH sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể với nhau để thực hiện đư c tội phạm là chưa rõ ràng, thực hiện mang tính bộc phát, trong đó: Cao M Tài là người khởi xướng, rủ rê, chặn đầu xe Exiter biển số 60C1-903.11 do Lê Nguyễn ThA H điều khiển và l y xe mô tô trên đưa cho B.

Trần Châu Thiên B, Lê Hồng P tham gia vụ án với vai trò thực hành; trong đó B có hành vi điều khiển xe chở Trương Hoàng Phúc, sau đó cùng Tài chiếm đoạt xe mô tô Exiter biển số 60C1-903.11; P dùng dao mang theo đe dọa và trực tiếp chiếm đoạt xe Wave biển số 60H1-358.59.

Phạm A M, Trịnh Thế N, Phạm Quang D, Trương Hoàng Phúc, Lê Ngọc Đ M; Nguyễn Thành Đ tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giúp s c cho các bị cáo trên về mặt tinh thần, chở đồng bọn tẩu thoát kh i hiện trường.

Về mức hình phạt quyết định đối với các bị cáo:

Bị cáo Tài ngoài các hành vi như đ phân tích trên, sau đó một thời gian còn trực tiếp bán xe mô tô Exiter biển số 60C1-903.11 l y tiền tiêu xài cá nhân, sau đó b trốn nên bị cáo Tài phải chịu m c án cao nh t trong đồng phạm;

Bị cáo Lê Hồng P và Trần Châu Thiên B phạm tội với vai trò thực hành tích cực nên phải chịu m c án ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo Lê Hồng P khi phạm tội đủ 16 tuổi nH chưa đủ 18 tuổi nên đư c áp dụng m c án bằng ¾ m c án đ áp dụng đối với bị cáo B.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ; Lê Ngọc Đ M; Phạm A M; Trương Hoàng Phúc; Trịnh Thế N; Phạm Quang D phạm tội với vai trò giúp s c, phải chịu cùng trách nhiệm như nhau, nH có phần th p hơn bị cáo B và P. Trong đó, M và Đ khi phạm tội đ đủ 18 tuổi nên phải chịu m c án của người trưởng thành. Tuy nhiên, do Nguyễn Thành Đ khi phạm tội bị hạn chế khả năng nhận th c và điều khiển hành vi nên m c án phải chịu có phần th p hơn bị cáo M; các bị cáo Phúc, D, N khi phạm tội đ đủ 16 tuổi nH dưới 18 tuôi, nên m c án đư c áp dụng sẽ bằng ¾ m c án đ áp dụng với bị cáo M. Bị cáo Phạm A M khi phạm tội đã đủ 14 tuổi và dưới 16 đuổi nên m c hình phạt áp dụng bằng ½ m c án áp dụng đối với bị cáo M. Ngoài việc phân hóa tội phạm như trên, Hội đồng xét xử cân nh c đến vai trò tham gia vụ án của các bị cáo ở tính ch t đồng phạm giúp s c nH không đáng kể và mang tính th yếu, có từ hai tinh tiết giảm nh và không có tình tiết tăng nặng để áp dụng m c hình phạt phù h p.

Về đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của các bị cáo có ảnh hưởng đến việc quyết định m c hình phạt, xét th y:

Trong vụ án này các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nh hình phạt như phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đ bồi thường kh c phục hậu quả cho chủ tài sản của xe và đư c A Lê Viết S; ngoài hai bị cáo Đ và B có nhân thân x u thì các bị cáo khác đều có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; ngoài bị cáo Tài bị b t theo lệnh truy nã thì các bị cáo khác sau khi đư c gia đình vận động đều đã ra đầu thú, đồng thời đều có đơn b i nại từ chủ tài sản bị thiệt hại và đư c A S xin giảm nh một phần hình phạt cho các bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo M có nhiều thành tích trong quá trình nhập ng ; gia đình bị cáo Lê Ngọc Đ M và Trịnh Thế N đều thuộc thuộc thành phần gia đình có công với cách mạng. Bị cáo Đ thời điểm gây án bị hạn chế khả năng nhận th c và điều khiển hành vi. Đây là nh ng tình tiết giảm nh quy định tại các điềm b, s, v khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và sẽ đư c Hội đồng xét xử đánh giá, cân nh c khi quyết định m c hình phạt đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Châu Thiên B và Nguyễn Thành Đ còn có các bản án của các Tòa án khác chưa đư c thi hành, nên cần áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tổng h p hình phạt để buộc các bị cáo ch p hành chung.

Bị cáo Cao M Tài mặc dù quá trình điều tra bị cáo chưa bồi thường cho A Lê Viết S, A S và các bị hại khác c ng không yêu cầu thêm đối với bị cáo c ng như các bị cáo khác. Tuy nhiên, xét tại phiên tòa ngày 18/3/2024, bị cáo đã nhận th c đư c hành vi phạm tội của mình là sai trái, tự nguyện tác động với gia đình tại phiên tòa để trực tiếp bồi thường thêm số tiền. 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng) cho A S tại phiên tòa, đư c A S ch p nhận nên đây đư c xem là tình tiết giảm nh cho bị cáo Tài quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhận th y trong vụ án này, cả nhóm bị cáo và nhóm bị hại tuổi đời còn nh , có bị cáo còn đang theo học trường cao đẳng (bị cáo P), có bị cáo có hoàn cảnh gia đình không hạnh phúc (cha, m ly hôn) nên tH đi sự nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đầy đủ của gia đình, dễ bị tác động với nh ng tệ nạn x u trong x hội hiện nay, nhận th c pháp luật còn non nớt, chưa đầy đủ. Mặc dù trước đó khai báo quA co, không thống nh t, nH sau khi Hội đồng xét xử giải tích, phân tích các quy định của pháp luật; các bị cáo đã thành khẩn nha65n5 l i; có ý th c cải tạo tốt. Vì vậy, theo chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, khi xử phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, người có như c điểm về thể ch t hay người phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt thì chú trọng xem xét áp dụng các quy định mang tính nặng về giáo dục và nh về hình phạt nhằm thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta. Ở đây, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nh , không có tình tiết tăng nặng, phạm tội mang tính ch t đồng phạm giản đơn nên Hội đồng xét xử cân nh c áp dụng các quy định tại khoản 1; khoản 2 Điều 54 và Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để giảm nh và cho các bị cáo đư c hưởng hình phạt dưới khung hình phạt và dưới m c th p nh t của khoản 2 Điều 168 của Bộ Luật hình sự.

. Quan điểm bào chữa: Tại phiên tòa, lời bào chưa của các Luật sư bào ch a cho bị cáo Lê Hồng P; Trịnh Thế N; Lê Đ Ngọc M; Nguyễn Thành Đ; Phạm Quang D và Tr giúp viên pháp lý cho các bị cáo chưa thành niên về việc các bị cáo phạm tội không mang tính có tổ ch c, phạm tội mang tính giản đơn, rời rạc trong hành động đồng thời xem xét cho các bị cáo đư c hưởng các m c án th p hơn m c đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đư c quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự là có căn c ; đồng thời trình bày các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là phù h p với các tài liệu, ch ng c có tại hồ sơ đã thể hiện nên đư c ch p nhận. Đối với quan điểm trA luận của Luật sư Võ ThA KH – là người bào ch a cho bị cáo Lê Hồng P cho rằng việc bị cáo P chưa l y đư c tài sản là chiếc xe Wave thuộc trường h p phạm tội chưa Đ là không phù h p vì hành vi của các bị cáo trong tội cướp tài sản đã hoàn thành từ lúc bị hại b lại xe và các bị cáo l y xe đem về, nên quan điểm này không đư c ch p nhận. Riêng lời trình bày về các tình tiết giảm nhe của các luật sư; tr giúp viên pháp lý về tình tiết giảm nh và cho rằng chưa đủ căn c để quy buộc các bị cáo phạm tội có tổ ch c là có cơ sở để ch p nhận.

. Về d n sự v xử lý vật chứng: Một phần tài sản các bị cáo chiếm đoạt đ đư c trả lại cho A S; các bị cáo c ng đ bồi thường xong. Vật ch ng vụ án đ đư c xử lý xong tại giai đoạn điều tra. A H và A Ngọc A; Lê H Đ; A Lê Viết S không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết. Ghi nhận việc bị cái Cao M Tài đã bồi thường xong cho A Lê Viết S tại phiên tòa.

. Về án phí: M i bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và theo khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Riêng Phạm A M đư c miễn án phí HSST.

. Về việc áp dụng các tình ti t tăng nặng; giảm nhẹ; tình ti t định khung hình phạt: Đối với tình tiết giảm nh đư c quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dung đối với bị cáo Lê Ngọc Đ M là không phù h p với tinh thần đ đư c hướng dẫn tại Mục 5 của Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao vì “Người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác là người được tặng thường Huân cH, Huy cH; bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế phát M có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sĩ thi đua…” trong khi bị cáo ch đư c tặng các Gi y khen vì đã tham gia và có thành tích từ các P trào mang tính tập thể nội bộ tại đơn vị và việc áp dụng tình tiết phạm tội có tổ ch c quy định tại điểm a khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự không phù h p với nhận định của Hội đồng xét xử như đã phân tích nêu trên, nên không đư c ch p nhận; còn nh ng nội dung khác phù h p nên đư c ch p nhận.

. Các h nh vi, qu t định tố tụng: của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào ch a trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội dA: Tuyên bố các bị cáo Cao M Tài, Lê Hồng P; Trần Châu Thiên B, Lê Ngọc Đ M; Trương Hoàng Phúc, Phạm Quang D; Phạm A M; Trịnh Thế N; Nguyễn Thành Đ phạm tội Cướp tài sản .

2. Về áp dụng điều luật:

Đối với Cao M Tài: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 54; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Cao M Tài: 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày 12/10/2023, nH đư c trừ đi thời gian đ giam gi trước từ ngày 20/9/2022 đến ngày 23/09/2022.

+ Đối với Lê Hồng P: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, 38; 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Lê Hồng P: 04 (Bốn) năm tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày 27/05/2023.

+ Đối với Trần Châu Thiên B: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 54; điểm b khoản 1 Điều 55; Điều 56; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Trần Châu Thiên B: 06 (sáu) năm tù giam. Tổng h p với m c hình phạt của bản án này với m c án 10 (M) tháng cải tạo không giam gi tại Bản án số 461/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố B. Do bị cáo chưa ch p hành hình phạt cải tạo không giam gi , nay lại phạm tội mới nên chuyển đổi m c hình phạt cải tạo không giam gi c 03 ngày cải tạo không giam gi đư c chuyển đổi thành 01 ngày tù, tính từ ngày 22/12/2022 (10 tháng = 304 ngày cải tạo không giam gi = 101 ngày tù tương đương với 03 (Ba) tháng 11 (M một) ngày tù) đề buộc bị cáo phải ch p hành m c hình phạt chung là: 06 (năm) Ba (tháng) 11 (M một) ngày tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày 22/12/2022, nH đư c trừ đi thời gian đ giam, gi trước từ ngày 23/10/2022 đến ngày 01/10/2022.

+ Đối với Lê Ngọc Đ M: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Đ M: 03 (Ba) năm tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày 20/07/2023.

+ Đối với Trịnh Thế N: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trịnh Thế N: 02 (Hai) năm tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày 29/05/2023.

+ Đối với Phạm A M: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 91; khoản 2 Điều 101; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm A M: 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày 29/05/2023.

+ Đối với Phạm Quang D: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Quang D: 03 (Ba) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 29/05/2023.

+ Đối với Trương Hoàng Phúc: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trương Hoàng Phúc: 03 (Ba) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 30/05/2023, nH đư c trừ đi thời gian đ giam gi trước từ ngày 23/10/2022 đến ngày 01/11/2022.

+ Đối với Nguyễn Thành Đ: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17, Điều 38; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 56; các điểm b, q, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ: 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Tổng h p với m c hình phạt của bản án này với m c hình phạt 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù giam tại bản án số 742/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố B xử phạt bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng . Buộc bị cáo phải ch p hành m c hình phạt chung là: 03 (Ba) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày b t bị cáo đi thi hành án, nH đư c trừ đi thời gian đ bị giam gi trước từ ngày 23/10/2022 đến ngày 01/11/2022.

3. Về án phí: Căn c vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 1 Luật tr em năm 2016 và Luật B vệ, chăm sóc tr em:

Buộc các bị cáo Cao M Tài, Lê Hồng P; Trần Châu Thiên B, Trương Hoàng Phúc; Trịnh Thế N, Phạm Quang D; Lê Ngọc Đ M; Nguyễn Thành Đ phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm m i bị cáo là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Bị cáo Phạm A M đư c miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyên bồi thường của bị cáo Cao M Tài cho A Lê Viết S ngay tại phiên tòa.

5.

Các bị cáo, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c hoặc bản án đư c niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ