vanban.org

Bản án 45/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Công T 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công T- Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ - phạm tội giao cho người không…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 264 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST
Ngày 25 – 12 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Liên và ông Bùi Thanh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Cơ - Kiểm sát viên.

Ngày 25/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 25/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 12/12/2024 đối với bị cáo:

Đinh Công T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/11/1991 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Nghề tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công C và bà Bùi Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Văn V – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hoà Bình; có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1967 và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1973; nơi cư trú: Cùng trú tại xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình (Là bố mẹ đẻ của anh H).

Người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Bùi Thị H2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 phút ngày 28/7/2024, Đinh Công T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30 của mình đi từ nhà đến nhà ông Bùi Văn S, ở xóm K, xã P, huyện T để dự đám cưới con trai ông S. Tại đám cưới, T có gặp em họ là Bùi Văn H là người cùng xóm với T. T và H cùng ngồi ăn cỗ, uống rượu với những người khác tại đám cưới. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi ăn cưới xong, Đinh Công T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30 chở theo H đến quán ăn đêm tại xóm L, xã P, huyện T. Tại đây, T và H có gặp và tiếp tục uống rượu với anh Bùi Văn D, trú tại: Xóm K, xã P, huyện T. Khoảng 21 giờ 45 phút, sau khi ăn xong, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30 chở H di chuyển theo đường từ đường Q thuộc địa phận xã P, huyện T đi xã S, huyện M để về nhà. Sau khi đi vào đường rẽ được khoảng từ 20 đến 30 mét, do T uống rượu nên run tay lái, thì H có nói “Anh run thế này để em lái thay anh”. Nghe thấy H nói, mặc dù biết H chưa có giấy phép lái xe theo quy định và đã uống rượu nhưng T đã dừng xe lại và giao xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30 cho H điều khiển để về nhà, còn T ngồi sau. Khi xe mô tô do H điều khiển đi đến km 1+700m, đường tỉnh lộ ĐT450 thuộc địa phận xóm T, xã P, huyện T sau khi uống rượu và không chú ý quan sát nên xe đâm xuống hố công trường thứ nhất gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Bùi Văn H tử vong tại Trung tâm y tế huyện T, Đinh Công T bị thương, xe mô tô biển số 28M1-027.30 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa, lòng đường rộng 3,6m, lề trái rộng 0,7m, lề phải rộng 0,8m thuộc tuyến đường ĐT 450, tại km 1+700 thuộc xóm T, xã P, bên phải đường có 01 biển báo công trường đang thi công chý ý giảm tốc độ, có lắp đèn tín hiệu màu đỏ, đang hoạt động, khu vực công trường có 02 hố được đào cắt ngang đường được quây xung quanh bằng cây cột, căng dây cảnh báo sát mép hố, trên hiện trường để lại 01 vết cày xới đất hướng Quốc lộ F đi xã S, huyện M có chiều dài 11m, 01 xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30 đổ nghiêng bên phải ở hố thứ nhất, ở hố công trường thứ nhất có diện chỗ rộng nhất 5,5m, chỗ sâu nhất 1,45m, từ tâm trục bánh sau đến đầu 1 là 4,9m, tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 28M1-027.30 đến mốc H7 là 5,9m, trên mép hố có 01 cọc rào bằng gỗ đổ nghiêng theo hướng Quốc lộ F đi xã S, huyện M.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 379/KLGĐTT-PC09-CAT, ngày 07/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Bùi Văn H chết do chấn thương sọ não.

Tại Bản Kết luận giám định số: 5777/KL-KTHS, ngày 06/8/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Văn H, sinh năm 1995, trú tại: Xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol 204 mg/100ml máu.

Tại Bản Kết luận giám định số: 5783/KL-KTHS, ngày 06/8/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Văn H, sinh năm 1995, trú tại: Xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình gửi giám định không tìm thấy ma tuý và sản phẩm chuyển hoá chất ma tuý trong mẫu máu của tử thi Bùi Văn H gửi giám định.

Tại Bản Kết luận giám định số: 5778/KL-KTHS, ngày 06/8/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Đinh Công T, sinh năm 1991, trú tại: Xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol 200mg/100ml máu.

Tại Bản Kết luận giám định số: 5784/KL-KTHS, ngày 16/8/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Đinh Công T, sinh năm 1991, trú tại: Xóm K, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình gửi giám định không tìm thấy ma tuý và sản phẩm chuyển hoá chất ma tuý trong mẫu máu của Đinh Công T gửi giám định.

Bản cáo trạng số: 47/CT-VKSTL ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Đinh Công Tới về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng và không kêu oan.

Ý kiến của những người tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập: Người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Anh H không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định và đã uống rượu. Ngày 28/7/2024, bị cáo giao xe mô tô cho anh H điều khiển là vi phạm pháp luật và việc ra tai nạn là điều không ai mong muốn. Giữa bị cáo và bị hại là anh em họ hàng. Sau tai nạn, bị cáo đã bồi thường cho gia đình số tiền 50.000.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự, không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 (Bị hại cũng có lỗi điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn; người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo) Điều 51 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Xử phạt bị cáo Đinh Công T từ 20 đến 30 triệu đồng.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại bị cáo Đinh Công T 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30, nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu nâu, đã qua sử dụng; 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển số 28M1-027.30, số 004814; 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Đinh Công T, số 170123002037 và 01(Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe gắn máy số AA25/0722050.

- Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các ý kiến tranh luận:

Người bào chữa: Nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi tai nạn xảy ra đã tích cực bồi thường và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã rất thành khẩn khai báo; bị cáo cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn; bị hại cũng có lỗi; người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bào chữa bổ sung.

Người đại diện theo uỷ quyền của những người đai diện hợp pháp của bị hại nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình đã gây ra thiệt hại cho người khác. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất, tạo điều kiện cho bị cáo cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Mặc dù biết rõ Bùi Văn H là người chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định của pháp luật, biết rõ Bùi Văn H đã uống rượu nhưng khoảng 21 giờ 45 phút ngày 28/7/2024, Đinh Công T đã có hành vi giao xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30 của mình cho Bùi Văn H điều khiển đi theo đường từ đường Q đi xã S, huyện M chở bị cáo để về nhà. Khi xe mô tô do H điều khiển đi đến Km 1+700, đường tỉnh lộ ĐT450 thuộc địa phận xóm T, xã P, huyện T do không chú ý quan sát nên xe đâm xuống hố công trường thứ nhất của khu vực đường đang thi công, được quây xung quanh bằng cây cột có căng dây cảnh bảo sát mép hố, bên trái có mở đường tránh đảm bảo cho các phương tiện lưu thông, có 01 biển báo có ghi “công trường đang thi công chú ý giảm tốc độ”, có đèn cảnh báo, gây tai nạn giao thông. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ”. Hậu quả: Bùi Văn H tử vong. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng của người khác. Bị cáo có năng lực trách chịu nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định nhưng lại giao xe cho người biết rõ không có giấy phép lái xe và có sử dụng rượu, bia điều khiển xe mô tô tham gia giao thông nên gây ra tai nạn làm thiệt hại tính mạng của người khác. Bản thân bị cáo cũng sử dụng rượu bia. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cần có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000đ. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại cũng có lỗi, điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ ethanol (cồn) 204 mg/100ml máu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, giữa bị cáo và bị hại là anh em họ. Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên toà xác định bị cáo có khoản tiền, tài sản nhất định đảm bảo thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ mà áp dụng hình phạt tiền theo khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ. Tuy nhiên, đề nghị của người bào chữa xử phạt bị cáo mức thấp nhất của Viện kiểm sát là không đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 264 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: 01 (Một) xe mô tô biển số 28M1-027.30, nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu nâu, đã qua sử dụng; 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển kiểm soát 28M1-027.30, số 004814; 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Đinh Công T, số 170123002037 và 01(Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe gắn máy số AA25/0722050. Đây là giấy tờ và tài sản của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung do vậy cần trả lại bị cáo khi án có hiệu lực pháp luật.

Về vấn đề khác: Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 là đơn vị thi công sửa chữa đường tỉnh lộ ĐT450, đã có những biện pháp bảo đảm an toàn và cảnh báo tại khu vực đường đang thi công như quây xung quanh bằng cây cột có căng dây cảnh bảo sát mép hố, bên trái có mở đường tránh đảm bảo cho các phương tiện lưu thông, có 01 biển báo có ghi “công trường đang thi công chú ý giảm tốc độ”, có đèn cảnh báo, không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông này nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Công T 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại bị cáo 01 (Một) xe mô tô biển số 28M1-027.30, nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM, màu nâu, đã qua sử dụng; 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển số 28M1-027.30, số 004814 mang tên Đinh Công T; 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A1, số 170123002037 do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 03/11/2016 mang tên Đinh Công T và 01(Một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe gắn máy số AA25/0722050.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 09 ngày 26/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, những người đại diện theo hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ