vanban.org

Bản án 45/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị P và anh Nguyễn Quang Q.

Về con chung: Giao cho chị P nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Nguyễn Vũ H.A, sinh ngày 13/11/2019 và Nguyễn Quang M.A, sinh ngày 08/12/2021. Việc cấp dưỡng nuôi con không có yêu cầu. Người không nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị P và anh Nguyễn Quang Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ T
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12/8/2024
V/v: Tranh chấp về HNGĐ giữa
chị Pvà anh Q.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế, bà Ngô Thị Hằng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12/6/2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị P, sinh năm 2000 (có mặt).

Trú tại: Thôn Q1, xã Q2, huyện Gia Bình, tỉnh B.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị P: Ông Lê Anh N, Luật sư của Công ty Luật TNHH cấp cao H, đoàn Luật sư thành phố H (xin vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Quang Q, sinh năm 2000 (có mặt).

Trú tại: Khu phố Đ, phường T1, thị xã T, B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2024 và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là chị Vũ Thị P trình bày: Chị chung sống với anh Q năm 2019, kết hôn với anh Q ngày 05/5/2021, có được tìm hiểu và tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T1 (nay là phường T1). Cưới xong chị về nhà chồng làm ăn ngay, vợ chồng ở chung với bố mẹ chồng.

Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trước khi cưới anh Q đi nghĩa vụ quân sự. Sau khi trở về thì ham chơi, không tu trí làm ăn, không lo cho gia đình vợ con, thường xuyên đi tụ tập với bạn bè, sử dụng chất kích thích, qua lại với cô gái khác, dẫn cô gái đó về nhà khi chị không có nhà. Gia đình chồng có khuyên bảo nhưng anh Q không sửa chữa, vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Tháng 5/2022, chị đã đưa hai con về nhà ngoại sinh sống. Anh Q không gọi chị về nhà, không thăm hỏi hai con nhỏ, cũng không chu cấp tiền để nuôi hai con. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Tháng 12/2022, chị đi xuất khẩu lao động tại Singapore nhưng do môi trường làm việc không tốt nên đến tháng 7/2023 chị về nước. Chị xác định không thể tiếp tục chung sống với anh Q được vì không còn tình cảm, chị đề nghị được ly hôn anh Q.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Vũ H.A, sinh ngày 13/11/2019 và Nguyễn Quang M.A, sinh ngày 08/12/2021. Hiện chị đang nuôi 02 con. Khi ly hôn chị xin nuôi cả 02 con, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có.

Phía bị đơn là anh Nguyễn Quang Q trình bày: Anh xác nhận một phần lời trình bày của chị P về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân một phần do anh mải chơi bạn bè nhậu nhẹt. Tuy nhiên chị P là người vợ không biết quan tâm lo lắng cho gia đình nhà chồng, hay mang con về nhà ngoại vài hôm mới về nhà, do vậy vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Có hôm anh đi uống rượu, chị P chửi anh. Anh đã gọi người nhà chị Pđến dạy bảo chị P, mẹ chị P xin cho chị P về nhà mấy hôm. Chị P đã đưa 02 con về nhà đẻ từ tháng 5/2022, sau đó không đưa con về nhà anh nữa. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Từ tháng 5/2024 anh đi học tiếng Nhật tại C, H đến giữa tháng 10/2024 thì kết thúc khóa học. Mục đích học là để đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, tháng 10/2024 anh sẽ đi Nhật lao động làm nghề cơ khí, xây dựng. Nay chị P xin ly hôn, anh đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị P trình bày. Hiện nay chị P đang nuôi 02 con. Khi ly hôn anh xin được nuôi cháu bé là Nguyễn Quang M.A, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị P vắng mặt nhưng có gửi bài phát biểu và đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị P nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Nguyễn Vũ H.A và Nguyễn Quang M.A.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của các đương sự là đúng pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị P và anh Q.

- Về con chung: Đề nghị giao cho chị P nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Nguyễn Vũ H.A và Nguyễn Quang M.A, việc cấp dưỡng nuôi con không có yêu cầu nên không xem xét.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị P xin ly hôn anh Nguyễn Quang Q, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình và Tòa án nhân dân thị xã T đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Vũ Thị P kết hôn với anh Nguyễn Quang Q ngày 05/5/2021, đã tuân đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phía chị Ptrình bày anh Q ham chơi, không tu trí làm ăn, không lo cho gia đình, thường xuyên đi tụ tập với bạn bè, sử dụng chất kích thích, qua lại với cô gái khác. Anh Q cũng thừa nhận anh có mải chơi bạn bè nhậu nhẹt, tuy nhiên chị Plà người vợ không biết quan tâm lo lắng đến gia đình nhà chồng, hay mang con về nhà ngoại vài hôm mới về nhà. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2022 đến nay. Chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, anh Q đồng ý. Xét việc thuận tình ly hôn của các đương sự là phù hợp pháp luật, cần chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Vũ H.A, sinh ngày 13/11/2019 và Nguyễn Quang M.A, sinh ngày 08/12/2021. Khi ly hôn chị P xin nuôi cả 02 con. Anh Q không đồng ý, anh xin được nuôi cháu bé là Nguyễn Quang M.A. Xét thấy, chị P vẫn nuôi 02 con từ khi các cháu còn nhỏ cho đến nay, các cháu vẫn mạnh khỏe và phát triển tốt. Phía anh Q đang học tiếng Nhật đến giữa tháng 10/2024 sẽ đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Để đảm bảo mọi quyền lợi cho con và tránh sự xáo trộn, nghĩ cần giữ nguyên như hiện nay. Giao cho chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự trình bày không có nên không xem xét.

Về án phí: Chị Pphải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ điều 235, 264, 266, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị P và anh Nguyễn Quang Q.

2. Về con chung: Giao cho chị P nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Nguyễn Vũ H.A, sinh ngày 13/11/2019 và Nguyễn Quang M.A, sinh ngày 08/12/2021. Việc cấp dưỡng nuôi con không có yêu cầu.

Người không nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, công nợ: Không có.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị P chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0003406, ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T). Chị P đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ