vanban.org

Bản án 45/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 12/04/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L.

Hủy Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Võ Thị L. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật về việc đăng ký biến động đất đai cho bà Võ Thị L đối v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 30 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 157 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B NH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HC-ST
Ngày: 12-4-2024
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B NH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Sáng;

2. Bà Phan Thị Vi V n;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bùi Tuyết H n – Thư ký Tòa án của Tòa án nh n d n tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H ng – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 46/2024/TLST-HC ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HC ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Võ Thị L, sinh năm 1982; v ng m t

Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. 2. Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B; v ng m t

Địa chỉ: KDC B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Thành L1 – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. v ng m t

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nh n d n thành phố P; v ng m t

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện trình bày:

Ngày 02/7/2020, bà Võ Thị L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị L2, cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đất chuyển nhượng thuộc thửa đất số 629, tờ bản đồ số 5, diện tích 300m2, mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn, tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 667795 ngày 25/9/2018 do Ủy ban nh n d n thành phố P cấp cho bà Phạm Thị C, đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Thị L2 ngày 12/8/2019.

Ngày 05/6/2023, bà Võ Thị L nộp hồ sơ đăng ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ. Ngày 19/6/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Võ Thị L.

Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị L2 đã đủ điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 nhưng Chi nhánh Văn phòng Đ từ chối giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi hợp pháp của bà Võ Thị L.

Vì vậy, bà Võ Thị L yêu cầu Tòa án nh n d n tỉnh Bình Thuận giải quyết:

1. Hủy Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Võ Thị L.

2. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ giải quyết hồ sơ đăng ký biến động sang tên cho bà Võ Thị L theo quy định của pháp luật. Người bị kiện trình bày:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cung cấp ý kiến tại Công văn số 939/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 01/4/2024.

Người có uyền l i, ngh a vụ liên uan Ủy ban nhân dân thành phố P: Quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nh n d n thành phố P không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tu n theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nh n d n, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trư c thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Võ Thị L: Hủy Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Võ Thị L; Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về việc v ng m t đương sự: Người khởi kiện, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Ủy ban nh n d n thành phố P có văn bản đề nghị xét xử v ng m t. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính xét xử v ng m t các đương sự nêu trên theo quy định.

Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện:

Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Võ Thị L ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp bà Võ Thị L.

Ngày 19/02/2024, bà Võ Thị L nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nh n d n tỉnh Bình Thuận đối v i Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, xác định văn bản nêu trên là quyết định hành chính bị kiện. Bà L khởi kiện trong thời hiệu. Toà án nh n d n tỉnh Bình Thuận thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L.

Căn cứ lời khai của người khởi kiện và tài liệu chứng cứ thể hiện: Ngày 19/4/2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 441166 cho bà Phạm Thị C đối v i thửa đất số 160, diện tích 1.080m2, đất trồng c y l u năm, tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ngày 08/8/2018, Ủy ban nh n d n thành phố P ban hành Quyết định số 5589/QĐ-UBND cho phép bà Phạm Thị C chuyển mục đích sử dụng đất đối v i phần diện tích 300m2 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 441166 sang đất ở nông thôn. Ngày 25/9/2018, Ủy ban nh n d n thành phố P thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 441166 và cấp m i thành hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C0 667795 cho bà Phạm Thị C đối v i thửa đất số 629, tờ bản đồ số 5, diện tích 300m2, đất ở tại nông thôn và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C0 667796 cho bà Phạm Thị C đối v i thửa đất số 630, tờ bản đồ số 5, diện tích 780m2, đất trồng c y l u năm. Bà Phạm Thị C chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị L2 thửa đất số 629, diện tích 300m2, đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C0 667795 và đăng ký biến động sang tên bà Nguyễn Thị L2 ngày 12/8/2019. Ngày 02/7/2020, bà Nguyễn Thị L2 và ông Nguyễn Văn M ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 629, diện tích 300m2 cho bà Võ Thị L.

Nhận thấy khi thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, người sử dụng đất được Ủy ban nh n d n thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nh n d n thành phố P không có ý kiến gì đối v i việc chuyển mục đích sử dụng đất diện tích 300m2 đất ở tại nông thôn nêu trên. Đến nay, không có văn bản nào của cơ quan nhà nư c có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật kết luận thửa đất số 629, diện tích 300m2 được cho chuyển mục đích sử dụng đất là không đúng quy định của pháp luật và ban hành văn bản hủy bỏ ho c thu hồi. Thửa đất nêu trên cũng không thuộc trường hợp bị kê biên, cấm chuyển nhượng theo quyết định của cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền. Như vậy, bà Nguyễn Thị L2 và ông Nguyễn Văn M được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 168, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013. Bà Võ Thị L không thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 191 của Luật Đất đai năm 2013. Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị L2 và ông Nguyễn Văn M v i bà Võ Thị L là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P trả hồ sơ đăng ký biến động của bà Võ Thị L tại Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19 tháng 6 năm 2023 là không đúng quy định pháp luật. Từ nhận định trên, xét yêu cầu của bà Võ Thị L về việc hủy Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ là có căn cứ chấp nhận như đề nghị của Viện kiểm sát nh n d n tỉnh Bình Thuận.

Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30, Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 168, Điều 188, Điều 191 của Luật Đất đai năm 2013.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L.

- Hủy Thông báo số 959/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Võ Thị L.

Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật về việc đăng ký biến động đất đai cho bà Võ Thị L đối v i thửa đất số 629 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C0 667795 ngày 25/9/2018 do Ủy ban nh n d n thành phố P cấp.

2. Về án phí:

- Bà Võ Thị L không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Võ Thị L số tiền 300.000đồng Ba trăm nghìn đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000158 ngày 19/02/2024 của Cục Thi hành án d n sự tỉnh Bình Thuận.

- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000đồng Ba trăm nghìn đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Đương sự có m t tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự v ng m t tại phiên tòa ho c không có m t khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án ho c được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ