- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thùy Nhung - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thùy N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HSST Ngày 15 tháng 03 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hiệp
Bà Phan Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đức Minh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:
Bà Mai Thùy Linh - Kiểm sát viên
Trong ngày 15 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2022/ TLST - HS ngày 03 tháng 2 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST – HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thùy N, Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988; HKTT : Số 36 ngách 19 ngõ T, phường T, quận H, thành phố H; Chỗ ở: như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Lê Văn A và bà Nguyễn Thị B, Chồng : Vũ Quang C - sinh năm 1982 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2009.
Nhân thân:
- Từ ngày 17/7/2003 đến ngày 05/3/2005: Công an các quận Hoàn Kiếm, Đống Đa xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. (hết thời hiệu)
- Ngày 21/11/2022: Công an quận Nam Từ Liêm bắt và ban hành Quyết định khởi tố bị can số 45 ngày 29/12/2022 về tội Trộm cắp tài sản.
- Ngày 24/9/2014: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản.
Xác minh thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng xác định: Lê Thùy N đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại biên lai số 02150 ngày 29/9/2014. (đã xóa án tích)
- Ngày 21/12/2015: Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với bản án năm 2014 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, buộc Lê Thùy N phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 15 tháng tù. Ra trại ngày 21/12/2016.
Xác minh thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa xác định: Lê Thùy N đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại biên lai số 3135 ngày 05/10/2016. (đã xóa án tích)
- Ngày 30/3/2018: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 05/01/2020.
Xác minh thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng xác định: Lê Thùy N đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại biên lai số 4795 ngày 30/3/2018 và nộp án phí dân sự sơ thẩm 490.000 đồng tại biên lai số 0001550 ngày 20/9/2019. (đã xóa án tích)
Tiền án: 01 Tiền án
- Ngày 30/3/2021: Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng). Ra trại: 22/4/2021.
Xác minh thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa xác định: Lê Thùy N đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại biên lai số 1173 ngày 27/06/2022. (chưa được xóa án tích)
Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày: 20/11/2022
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/11/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Trần Thị Minh T; sinh ngày 22/02/2004;
Hộ khẩu thường trú: thị trấn X, huyện N, tỉnh H (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:
Khoảng 18h40’ ngày 20/11/2022, Lê Thùy N cùng con gái là Vũ Ngọc Tường V (sinh năm 2009; HKTT: Số 36 ngách 19 ngõ T, phường T, quận H, thành phố H) và chị dâu Nông Thu H (sinh năm 1993; HKTT: Số 15 ngõ T, phường T, quận H, thành phố H) đi đến khu vực hồ Hoàn Kiếm để xem ca nhạc. Trong lúc Vy xem ca nhạc, H đứng xếp hàng nhận nước uống miễn phí thì Lê Thùy N đi bộ và phát hiện chị Trần Thị Minh T (sinh ngày 22/02/2004; Chỗ ở: Số 2 ngách 63/74 Phố V, phường D, quận C, thành phố H) đang đứng ở lòng đường đối diện số 61 Phố Đ, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có để 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng lắp sim số 0773356783, có vỏ ốp màu trắng hồng trong túi áo khoác bên phải. N tiến đến áp sát chị T từ phía sau, dùng tay trái lấy trộm chiếc điện thoại trong túi áo bên phải rồi cất giấu vào túi quần bò phía sau bên trái của N, sau đó đi về phía cổng Đền Ngọc Sơn gặp Vy. Tại đây, N đã cất chiếc điện thoại vừa lấy trộm được vào túi đeo chéo của Vy. Ngay sau đó, tổ công tác Đội 5 - Phòng PC02 - Công an thành phố Hà Nội phối hợp với Công an phường Lý Thái Tổ thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phòng, chống trộm cắp tại khu vực phố đi bộ đã phát hiện, bắt quả tang và đưa N về trụ sở giải quyết.
Tại Công an phường Lý Thái Tổ, Lê Thùy N đã khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân.
Theo bản Kết luận định giá tài sản số 238/ĐGTS ngày 26/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm, điện thoại Iphone 11 màu trắng, dung lượng 64GB đã qua sử dụng trị giá 7.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản cho người bị hại là chị Trần Thị Minh T. Chị T không có yêu cầu khác về dân sự. (BL 130)
Đối với Vũ Ngọc Tường V và Nông Thu H, cả hai không biết và không tham gia trộm cắp tài sản cùng Lê Thùy N nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 02/2/2023 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Lê Thùy N về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thùy N khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thùy N phạm tội Trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Lê Thùy N từ 15 đến 18 tháng tù.
Về dân sự: Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không xét.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi đeo chéo màu đen có kích thước 20x15cm đã qua sử dụng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái, Viện Kiểm sát truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Khoảng 18h40’ ngày 20/11/2022, tại khu vực lòng đường đối diện số 61 Phố Đ, phường L, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Lê Thùy N đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng có vỏ ốp màu trắng hồng trị giá 7.000.000 đồng của chị Trần Thị Minh T. Bị can bị bắt quả tang cùng tang vật.
Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Thùy N đã có hành vi Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Nhân thân bị cáo rất xấu, có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản trong đó có 1 tiền án chưa được xóa án tích, ngày 21/11/2022, Công an quận Nam Từ Liêm bắt và ban hành Quyết định khởi tố bị can số 45 ngày 29/12/2022 về tội Trộm cắp tài sản chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo bị cáo nhiều lần nhưng bị cáo vẫn tiếp tục sa ngã nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,tài sản phạm tội đã thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Số tiền bị cáo chiếm đoạt là 7.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Biện pháp tư pháp:
- Về dân sự: Bị hại Trần Thị Minh T đã nhận lại giá trị tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không xét.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi đeo chéo màu đen có kích thước 20x15cm đã qua sử dụng.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thùy N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lê Thùy N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2022.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi đeo chéo màu đen có kích thước 20x15cm đã qua sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 9/2/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Công an quận Hoàn Kiếm; - CC Thi hành án DS quận Hoàn Kiếm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP/TA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lệ Hằng |