vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 27/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Duy Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 02- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Âu Văn Hồ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Quyền

2. Ông Bùi Quý Minh Ánh

- Thư ký Toà án: Bà Trịnh Thị Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Bảo Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HS ngày 15/02/2023 đối với:

Bị cáo: Vũ Duy Đ; Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 14/2/1991 tại Đại Từ, Thái Nguyên; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm Thắng Lợi, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12.

Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

Bố: Vũ N T, sinh năm 1953; Mẹ: Đỗ Thị N (đã chết); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Thạch Thị Q, sinh năm 1995; Vợ chồng có một con chung sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Anh Đào Thành T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Xóm 9, xã Bình Thanh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)

*. Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1995 (Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Đội 3, xã N Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

2. Anh Khúc Văn V, sinh năm 1994 (Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Z176, xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Duy Đ là công nhân của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Việt Pháp đang ở trọ tại phòng 502, tầng 5, tòa nhà 113, ký túc xá 01 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên thuộc Khu công nghiệp Yên Bình, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 09 giờ ngày 10/8/2022, Đ mang mỳ tôm và bát đến phòng nghỉ tầng 5, tòa nhà 113, ký túc xá 01 để ăn. Sau khi ăn xong, Đ mang bát đi rửa rồi quay lại phòng nghỉ thì thấy anh Đào Thanh T đang ngủ trên ghế sofa trong phòng, trên ngực anh T có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+ màu trắng. Quan sát xung quanh không thấy có ai, Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đ tiến đến vị trí anh T đang ngủ, dùng tay phải lấy chiếc điện thoại mà không bị anh T phát hiện rồi cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Sau đó, Đ đi ra ngoài cổng ký túc xá 01, tháo chiếc vỏ ốp màu vàng ra khỏi điện thoại và vứt vỏ ốp tại vỉa hè gần đó rồi đi bộ đến cửa hàng điện thoại Văn N Mobile có địa chỉ tại tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, Đ đã nhờ chủ cửa hàng là anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1995; trú tại Đội 3, xã N Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, chạy lại phần mềm chiếc điện thoại vừa trộm cắp rồi tháo 02 chiếc sim bên trong điện thoại và lắp sim điện thoại của Đ vào để sử dụng. Khi ra khỏi cửa hàng Văn N Mobile, Đ đã vứt 02 chiếc sim vừa tháo bên trong chiếc điện thoại trộm cắp được trên hành lang đường ra về. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, nghi ngờ là có người trộm cắp, anh T báo với quản lý ký túc xá 1 là anh Khúc Văn V. Anh V đã tiến hành kiểm tra hình ảnh camera an ninh thì phát hiện Vũ Duy Đ là đối tượng khả nghi trộm cắp tài sản của anh T. Ngày 11/8/2022, anh T đã đến Đồn Công an khu công nghiệp Yên Bình để trình báo sự việc trên. Ngày 13/8/2022, Đồn Công an khu công nghiệp Yên Bình đã triệu tập Vũ Duy Đ đến làm việc, Đ đã giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+ do Đ trộm cắp và khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Cùng ngày, Đồn Công an khu công nghiệp Yên Bình đã đưa Vũ Duy Đ và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận định giá số 59/KLĐG ngày 22/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phổ Yên, kết luận: “Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+, màu trắng; điện thoại đã qua sử dụng, hiện trạng điện thoại còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường. Giá trị còn lại của điện thoại là 8.000.000 đồng”.

Vật chứng của vụ án:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+, màu trắng, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Đào Thanh T, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T quản lý, sử dụng;

- 01 chiếc USB được niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS3 210644 và 01 chiếc sim điện thoại Viettel số 0374.647.176 được niêm phong trong phong bì ký hiệu S được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đào Thanh T đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu, đề nghị gì đối với Vũ Duy Đ.

Do có hành vi nêu trên nên tại bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSPY ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Duy Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSPY ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Duy Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Duy Đ 09 tháng đến 12 tháng tù giam.

2.2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. - 01 chiếc USB được niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS3 210644 và 01 chiếc sim điện thoại Viettel số 0374. 647.176 được niêm phong trong phong bì ký hiệu S được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án

4. Về trách nhiệm dân sự: Anh Đào Thanh T đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu, đề nghị gì đối với Vũ Duy Đ.

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sớm trở về với gia đình và cộng đồng, sửa chữa lỗi lầm, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 09 giờ ngày 10/8/2022 tại phòng nghỉ, tầng 5, tòa nhà 113, ký túc xá 01 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên thuộc Khu công nghiệp Yên Bình, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Vũ Duy Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+ màu trắng. Tại bản Kết luận định giá số 59/KLĐG ngày 22/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phổ Yên, kết luận: “Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+, màu trắng; điện thoại đã qua sử dụng, hiện trạng điện thoại còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường. Giá trị còn lại của điện thoại là 8.000.000 đồng”

Hành vi, ý thức của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSPY ngày 02 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Duy về tội danh và điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

Xét các yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

- Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật do đó, Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân tốt.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ cho bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tài sản cho cá nhân, thuộc loại tội ít nghiêm trọng, xâm hại quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào song xét thấy bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, giá trị tài sản gấp bốn lần khởi điểm, do vậy cần áp dụng hình phạt tù giam cách ly bị cáo để giáo dục nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.

Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Anh Đào Thanh T đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu, đề nghị gì đối với Vũ Duy Đ. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. - 01 chiếc USB được niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS3 210644 và 01 chiếc sim điện thoại Viettel số 0374.647.176 được niêm phong trong phong bì ký hiệu S được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Duy Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Duy Đ 09 (chín) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2.2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đ

3. Về trách nhiệm dân sự: Anh Đào Thanh T đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu, đề nghị gì đối với Vũ Duy Đ. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 chiếc USB được niêm phong trong túi niêm phong có mã số PS3 210644 và 01 chiếc sim điện thoại Viettel số 0374.647.176 được niêm phong trong phong bì ký hiệu S được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án (Lưu hồ sơ)

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Vũ Duy Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ