- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tếnh Lao C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tếnh Lao C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HS-ST Ngày 03 - 08 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đức Thọ
Ông Hoàng Minh Xuân
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 08 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 07 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tếnh Lao C (tên gọi khác:Không), sinh ngày 12 tháng 12 năm 1997 tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tếnh Lao G (đã chết) và bà Giàng Thị D; bị cáo có vợ và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/04/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Văn Thuận - Luật sự thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 00 phút, ngày 04/4/2023 tổ công tác Đồn biên phòng C - BCH Bộ đội BP tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang đối với Tếnh Lao C, sinh năm 1997, trú tại: bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm phát hiện và thu giữ 01 nilon màu trắng bên trong chứa 40 viên nén màu trắng nghi là Methamphetamin, do Tếnh Lao C tự giác lấy trong túi quần bên phải giao nộp. 01 Điện thoại di động, loại bàn phím, hiệu Mastel, màu đỏ đen, có sim 0378969487, đã qua sử dụng, 01 tẩu hút tự chế bằng nhựa. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Ngày 05/4/2023 Đồn biên phòng C - BCH Bộ đội BP tỉnh Sơn La phối hợp với phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng và trích mẫu gửi giám định, kết quả: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 40 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 3,71g, trích 5 viên nén màu hồng có khối lượng 0,46g làm mẫu giám định ký hiệu C, còn lại 35 viên khối lượng 3,25g cho vào túi nilon màu trắng ký hiệu là L nhập kho vật chứng.
Tại kết luận giám định số 749/KLMT ngày 06/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; Loại Methamphetamine ; Khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,46 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,71 gam. Loại Methamphetamine”
Quá trình điều tra Tếnh Lao C khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 04/4/2023, C mang theo 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng nghìn đồng) rồi đi bộ từ nhà tại bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La đến khu vực biên giới Việt - Lào gần cột mốc 240 với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi đến nơi C gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không rõ họ tên và địa chỉ, qua nói chuyện, C hỏi mua ma túy và được người đàn ông trên lấy ra 01 gói nilon màu trắng trong túi quần bên phải, bên trong chứa 40 viên Hồng phiến bán cho C với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), sau khi mua ma túy C cất giấu gói ma túy vào trong túi quần bên phải phía trước rồi đi bộ về nhà. Khoảng 13 giờ 00 ngày 04/4/2023, khi C về đến khu vực bản P, xã C, huyện Y thì bị tổ công tác Đồn biên phòng C - BCH Bộ đội BP tỉnh Sơn La bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSYC ngày 29/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Y để xét xử bị cáo Tếnh Lao C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tếnh Lao C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 40 tháng đến 46 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì thư niêm phong mặt trước ghi vật chứng vụ Tếnh Lao C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong gồm có 35 viên nén màu hồng hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY đựng trong túi nilon màu trắng ký hiệu L + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. 01 Tẩu hút tự chế bằng nhựa.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, loại bàn phím hiệu Mastel, màu đỏ đen, có sim 0378969487, đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu luận cứ bào chữa cho bị cáo với nội dung nhất trí với bản cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Tếnh Lao C về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, đề nghị HĐXX căn cứ vào nguyên nhân, mục đích động cơ phạm tội, hành vi trách nhiệm hình sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, được miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/4/2023, biên bản niêm phong vật chứng ngày 04/4/2023, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 04/4/2023, Kết luận giám định số 749/KLMT ngày 06/4/2023, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/4/2023, bị cáo Tếnh Lao C có hành vi mua 40 viên Hồng phiến của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 400.000đ và cất giấu trong túi quần với mục đích để sử dụng, trên đường về thì bị phát hiện và bắt giữ, tổng khối lượng ma tuý bị thu giữ là 3,71gam, loại chất Methamphetamin. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố và Tòa án nhân dân huyện Y xét xử bị cáo Tếnh Lao C là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật. Là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tiền án của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với số ma tuý và vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì thư niêm phong mặt trước ghi vật chứng vụ Tếnh Lao C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong gồm có 35 viên nén màu hồng hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY đựng trong túi nilon màu trắng ký hiệu L + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Mặt sau có số hiệu 095127. 01 Tẩu hút tự chế bằng nhựa.
Xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động loại bàn phím Masstel, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng, xét thấy đây là vật không trực tiếp liên quan đến tội phạm. Do đó HĐXX quyết định trả lại chiếc điện thoại cho bị cáo Tếnh Lao C.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nơi trao đổi mua bán ma túy diễn ra tại gần cột mốc 240 Biên giới Việt - Lào nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Tếnh Lao C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Tếnh Lao C 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định, và các vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì thư niêm phong mặt trước ghi vật chứng vụ Tếnh Lao C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bên trong gồm có 35 viên nén màu hồng hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY đựng trong túi nilon màu trắng ký hiệu L + 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Mặt sau có số hiệu 095127. 01 Tẩu hút tự chế bằng nhựa.
- Trả lại 01 điện thoại di động loại bàn phím Masstel, màu đen đỏ, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Tếnh Lao C.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 42/BB-CCTHADS ngày 30/6/2023 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tếnh Lao C.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 03/08/2023./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Y; - Công an huyện Y; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo ; - Lưu: hồ sơ, án văn. Hội thẩm Hội thẩm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền Hội thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Cầm Thị Thanh Huyền Hội thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Cầm Thị Thanh Huyền |