vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45 /2023/HS-ST
Ngày: 15/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT-TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thắm

Ông Trương Công Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường B – Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ tên: Hoàng Ngọc H, sinh năm 1998, tại B, Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Họ tên cha: Trần Văn K, sinh năm 1976; Họ tên mẹ: Vũ Thanh T, sinh năm 1977; Bị cáo là con một trong gia đình; Chưa có vợ, con.

Tiền án:

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số 97/2017/HSST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố L), xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành án xong hình phạt ngày 17/04/2018. Đóng án phí HSST vào tháng 6/2019.

+ Bản án số 101/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2021. Đóng án phí HSST tháng 02/2020.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 18/10/2022 và bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Thống Nhất từ ngày 19/10/2022 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

Bà Lê Thị Kim H1, sinh năm: 1971

Địa chỉ: Số 376, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm 1965

Địa chỉ: Tổ 10, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Ngọc H, sinh năm 1998, có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, sống lang thang và không có công việc ổn định.

Vào khoảng 16 giờ ngày 18/10/2022, Hoàng Ngọc H đi bộ ngang qua cửa hàng xăng dầu D, thuộc khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện có 01 xe mô tô biển số 60B7-69.100 của chị Trần Thị Thanh N, sinh năm 1965, ngụ tại tổ 10, khu phố T, thị trấn D, huyện T dựng trước cửa hàng, trên xe có treo một giỏ xách nên H này sinh ý định trộm cắp. H đã lén lút đến trộm cắp chiếc giỏ xách trên và đem ra chân cầu vượt Dầu Giây kiểm tra thì phát hiện bên trong có 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM, 01 chứng minh nhân dân tên Lê Thị Thanh N nên lấy số giấy tờ trên bỏ trong người và tiếp tục đi bộ về hướng Biên Hòa. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đi ngang nhà chị Lê Thị Kim H1, sinh năm 1971 ngụ tại ấp H, xã H, huyện T thì H phát hiện có 01 xe mô tô hiệu ZENITH biển số 60B7-207.08 của chị H1 để trong sân và không có khóa cổng, H lén lút đi vào phía trong dẫn chiếc xe mô tô trên ra ngoài đường, H đạp thử thì thấy xe nổ máy nên chạy xe về hướng huyện Trảng Bom được khoảng 04 km thì hết xăng, H ghé vào một quán cà phê võng thuộc ấp H, xã H, huyện T để nằm ngủ thì bị lực lượng tuần tra Công an xã H, huyện Thống Nhất phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu ZENITH, biển kiểm soát 60B7-207.08, số máy CT100E1697449, số khung CT100DXC754373; 01 giấy căn cước công dân, 01 thẻ ATM và 01 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Trần Thị Thanh N.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 1360/KL-HĐĐGTS ngày 07/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất xác định: 01 xe mô tô hiệu ZENITH, biển kiểm soát 60B7-207.08, số máy CT100E1697449, số khung CT100DXC754373 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 3.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Hoàng Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại cáo trạng số: 11/CT-VKS.TN ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc H mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 02/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô hiệu ZENITH, biển kiểm soát 60B7-207.08, số máy CT100E1697449, số khung CT100DXC754373 cho chị Lê Thị Kim H1 và trả lại 01 giấy căn cước công dân số 075165004352, 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank số 9704053052326781 và 01 giấy chứng minh nhân dân số 270832578 cho chị Trần Thị Thanh N.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Kim H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai người bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 18/10/2022, tại khu vực thị trấn Dầu Giây và xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Hoàng Ngọc H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 giấy căn cước công dân, 01 thẻ ATM và 01 giấy chứng minh nhân dân của chị Trần Thị Thanh N và 01 xe mô tô hiệu ZENITH, biển kiểm soát 60B7-207.08, số máy CT100E1697449, số khung CT100DXC754373 của chị Lê Thị Kim H1 thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Tổng giá trị tài sản H trộm cắp là 3.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác trái pháp luật, bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội có đủ khả năng lao động nhưng không tu chí làm ăn lương thiện nuôi sống bản thân mà đã lợi dụng sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Trong vụ án này, tuy giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn nhưng bị cáo đã nhiều lần bị kết án về các tội xâm phạm sở hữu, chấp hành xong hình phạt không tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện việc bị cáo lười lao động, xem thường pháp luật. Do đó cần phải có một mức án nghiêm cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo có nhân thân xấu đã hai lần bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại, bị hại đã nhận lại được tài sản của mình nên đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Ngày 02/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô hiệu ZENITH, biển kiểm soát 60B7-207.08, số máy CT100E1697449, số khung CT100DXC754373 cho chị Lê Thị Kim H1 và trả lại 01 giấy căn cước công dân số 075165004352, 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank số 9704053052326781 và 01 giấy chứng minh nhân dân số 270832578 cho chị Trần Thị Thanh N là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Lê Thị Kim H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và đề xuất về mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.Về hình phạt:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Không

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ