vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu P phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày: 12-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Liễu và ông Nguyễn Văn Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai (hình thức xét xử trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Hữu P – sinh năm 1993, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp x xã PL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C – sinh năm 1969 và bà Trần Thị G – sinh năm 1972; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 10/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản theo Bản án số 106/2020/HS-ST, đến ngày 20/7/2021 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2023. (Có mặt)

- Bị hại: Ông Hồ Hoàn K – sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp y, xã PT, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ A C – sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp z, xã TL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Ông Trần Đình T – sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp k, xã PL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hữu P là đối tượng nghiện ma túy và là người bị kết án về tội cưỡng đoạt tài sản, chưa được xóa án tích.

Khoảng 07 giờ ngày 29/01/2022, P điều khiển xe mô tô biển số 60B3-632.71 chở theo Hồ A C sinh năm 1991 ngụ tại Ấp z, xã TL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đi đến cửa hàng điện thoại di động HT thuộc Ấp m, xã PL, huyện Tân Phú. Lúc này, tại cửa hàng có ông Hồ Hoàn K đang đứng để giao dịch với chủ cửa hàng là ông Trần Đình T, thì ông K làm rơi 01 ví tiền bên trong có số tiền 800.000 đồng và 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng. Thấy ông K làm rơi ví thì C chỉ cho P thấy, cả hai nảy sinh ý định chiếm đoạt nên C dùng chân đá chiếc ví lại chỗ P đang ngồi. P nhặt ví rồi cất giấu vào túi quần bên trái. Sau khi chiếm đoạt được ví tiền P điều khiển xe mô tô chở C rời khỏi cửa hàng điện thoại. Sau khi trộm cắp tài sản xong, P và C dùng số tiền 400.000 đồng để mua ma túy của 01 người tên Đ (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch), 300.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Số tiền 100.000 đồng còn lại và 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng thì C cất giấu. Vụ việc sau đó được trình báo đến công an xã Phú Lộc và được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú điều tra theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, Trần Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Thông báo kết quả giám định số 00088/N1.22/TĐ ngày 07/3/2022 của Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 – Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã kết luận: Mặt dây chuyền bằng hợp kim đồng – kẽm (đồng thau), bề mặt phủ vàng (Au), Nickel (Ni), Đồng (Cu). Khối lượng 4,3352 gam. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 22/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú đã xác định: 01 bóp da, màu đen, đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị còn lại của tài sản trên 35.000 đồng. 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng hình bầu dục, ở giữa có viên đá cẩm thạch, màu xanh lá cây, xung quanh có đính các hạt màu trắng đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị còn lại của tài sản trên 70.000 đồng” .

Như vậy trị giá tài sản mà Trần Hữu P và Hồ A C đã chiếm đoạt là 800.000 đồng + 35.000 đồng + 70.000 đồng = 905.000 đồng.

Theo Cáo trạng số 86/CT-VKSTP-ĐN ngày 07/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Trần Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Hữu P mức án 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng, ông Hồ Hoàn K đã nhận lại tài sản, nên không đề nghị xem xét; về trách nhiệm dân sự, ông Hồ Hoàn K đã nhận số tiền 700.000 đồng, không yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt bị can để tạm giam, Thông báo kết quả giám định, Kết luận định giá, Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Khoảng 07 giờ ngày 29/01/2022, tại Ấp m, xã PL, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Trần Hữu P (là người bị kết án về tội cưỡng đoạt tài sản, chưa được xóa án tích) có hành vi trộm cắp của ông Hồ Hoàn K tài sản là 01 ví da bên trong có số tiền 800.000 đồng và 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng. Tổng giá trị tài sản mà Trần Hữu P đã trộm cắp là 905.000 đồng.

Hành vi của Trần Hữu P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Ngoài ra còn xem xét tài sản đã được thu hồi trao trả cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, còn trẻ nhưng do nghiện ma túy, vì muốn có ma túy để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân và có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để sử dụng và nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài, với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử năm 2020 về tội chiếm đoạt tài sản; tuy nhiên lại không thay đổi, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản, thể hiện thái độ không ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Ông Hồ Hoàn K đã nhận số tiền 700.000 đồng, không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả cho ông K tài sản là 01 ví da màu đen, số tiền 100.000 đồng và 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối với Hồ A C chưa bị xử phạt hành chính và chưa bị kết án về tội chiếm đoạt, thực hiện hành vi trộm cắp với số tiền 905.000 đồng cùng với P chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Tân Phú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với người đàn ông tên Đ là người bán ma túy cho P và C không xác định được rõ nhân thân, lai lịch đối tượng và chưa lấy được lời khai. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Hữu P 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/3/2023.

2. Về án phí: Bị cáo Trần Hữu P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ