vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 08/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội trộm cắp tài sản;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (30/8/2023). Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Cường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội trộm cắp tài sản;
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày 08-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khuyến

Ông Nguyễn Văn Luận

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 08/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2023/TLST-HS ngày 24/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 41/2023/QĐXXST- HS ngày 24/11/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, tại tỉnh NB; nơi cư trú: thôn Ngô T, xã Ninh H, huyện Hoa L, tỉnh NB; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Lê Thị N; vợ: không có (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2003; tiền án: không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC ngày 07/6/2023 của Công an huyện Gia Viễn xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chấp hành xong ngày 12/6/2023), Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC ngày 20/6/2023 của Công an xã Gia Trấn, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chấp hành xong ngày 23/6/2023); nhân thân: Bản án số 35/2009/HSST ngày 18/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù, buộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2011, nộp án phí ngày 04/11/2009), Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 05/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 12/01/2017). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị T, sinh năm 1983, trú tại: thôn Trường X, xã Trường Y, huyện Hoa L, tỉnh NB; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 08/8/2023, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B2-963.81 mượn của chị Nguyễn Thị Quỳnh H - con gái của C đi qua khu vực chăn nuôi gà của gia đình chị Trần Thị T tại khu vực nghĩa trang Mạ C, thôn Trường X, xã Trường Y, huyện Hoa L, tỉnh NB. C thấy có 02 con gà trống lai trọi, lông màu đỏ, đen ở bên đường, không có ai trông coi nên C đã dựng xe ở bên đường và đuổi bắt 02 con gà. Khi 02 con gà chạy ra khu vực nghĩa trang, C lên xe mô tô đi vào nghĩa trang, tiếp tục đuổi bắt 02 con gà. Sau khi bắt được, C cho 02 con gà vào giữa xe và cầm, giữ chân 02 con gà bằng tay trái còn tay phải điều khiển xe đi về nhà. Về nhà, C trói chân 02 con gà rồi để ở khu đất trống cạnh bếp.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, chị Trần Thị T cho gà ăn thì thấy mất 02 con gà nên đã kiểm tra lại camera của gia đình phát hiện lúc 9 giờ 15 phút cùng ngày có một người đàn ông lạ mặt đi xe mô tô biển kiểm soát 35B2-963.81 vào đuổi bắt gà nên đã trình báo Công an xã Trường Yên. Khi đến triệu tập C để làm việc, Công an xã Trường Yên đã phát hiện 02 con gà trống lai trọi, lông màu đỏ, đen đang để ở cạnh bếp nhà C nên đã tiến hành thu giữ 02 con gà có trọng lượng 5,5 kg cùng xe mô tô biển kiểm soát 35B2-963.81. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị T 02 con gà, trả lại cho chị H xe mô tô biển kiểm soát 35B2-963.81. Chị T, chị H không có yêu cầu gì khác.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoa Lư kết luận: 02 con gà trống lai trọi có tổng trọng lượng 5,5 kg có giá trị là 550.000 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ và lưu trong hồ sơ 01 tệp tin video, thời gian của tệp tin từ 09 giờ 14 phút 34 giây đến 09 giờ 17 phút 18 giây trích xuất từ camera của gia đình chị T. Tại kết luận giám định số 746/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 18/9/2023 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video, trích xuất được 07 ảnh mô tả diễn biến nội dung liên quan vụ việc gửi kèm theo kết luận giám định.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSHL ngày 23/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giam; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về tội danh: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: khoảng 9 giờ, ngày 08/8/2023, tại khu chăn nuôi của gia đình chị T ở thôn Trường X, xã Trường Y, huyện Hoa L, tỉnh NB, Nguyễn Văn C lợi dụng gia đình chị T đi vắng đã lén lút bắt 02 con gà trống lai trọi, lông màu đỏ đen có trị giá 550.000 đồng. Bị cáo thực hiện hành vi trong khi đang có một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong nhưng chưa đủ thời gian để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính). Do đó, hành vi của bị cáo C đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Điều 173 của BLHS quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

a, Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

….”

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngoài lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đã cấu thành tội phạm nêu trên thì bị cáo còn 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân rất xấu do bị cáo bị toà án xử phạt tù và áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đều về các hành vi liên quan đến ma túy.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình phạt.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Về hình phạt: Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, có xem xét đến nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 02 con gà cho người bị hại và trả lại chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật (chị H cho bị cáo C mượn xe mô tô để dùng trong sinh hoạt hàng ngày, không biết bị cáo dùng vào việc trộm cắp tài sản).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội trộm cắp tài sản;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (30/8/2023).

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ