vanban.org

Bản án 45/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 10/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Phạm Chí H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phạm Chí H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Tuyên bố: Mạc Lê Hồng phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Chí Hiếu và đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Chí H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HS-ST
Ngày: 10 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Trọng Kim

Bà Nguyễn Thị Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát Viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/TLST-HS, ngày 27 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/HSST-QĐ, ngày 09/5/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/HSST-QĐ, ngày 30/5/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/HSST-QĐ, ngày 29/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/HSST-QĐ, ngày 21/7/2023, đối với các bị cáo:

1. Phạm Chí H, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1998, tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Tổ A, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị O; Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: không;

Nhân thân:

Ngày 30/6/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/10/2016.

Ngày 23/8/2019 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 (mười tám) tháng. Chấp hành xong ngày 27/11/2020.

Ngày 13/3/2023 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, khởi tố và bắt tạm giam về hành vi Trộm cắp tài sản.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai trong vụ án khác. Có mặt.

2. Mạc Lê H1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 1995, tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Tổ C, Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Đình K và bà Lê Thị M (đã chết); Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: không;

Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Đ. Có mặt.

3. Huỳnh Quốc B (tên gọi khác: Bảo Sáu C, B), sinh ngày 06 tháng 02 năm 1995, tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T và bà Lê Thị Kim S; Vợ: Phan Đặng Thu H2 (không đăng ký kết hôn); con có 01 người;

Tiền sự: Ngày 11/9/2020 bị Công an xã Đ ra quyết định số 0055119 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Chưa chấp hành.

Tiền án: Ngày 26/5/2021 tại Bản án số 23/2021/HS-ST bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 01 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/6/2022. Chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

Ngày 14/6/2012, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số tiền 375.000 đồng, chấp hành xong ngày 22/6/2012.

Tại bản án số 32/HSST, ngày 22/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 31/8/2015, đã được xóa án tích.

Ngày 01/02/2021, bị Ủy ban nhân dân xã Đ ra quyết định số 27/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Đ thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 01/02/2021 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Đ. Có mặt.

Bị hại:

- Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ D, thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Duy T2, sinh năm 1988; nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Để có tiền tiêu xài, vào đêm ngày 11/12/2022 rạng sáng ngày 12/12/2022, Phạm Chí H, sinh năm 1998, trú tại thôn D, xã Đ cùng với Mạc Lê H3, sinh năm 1995, trú tại khu phố B, thị trấn Đ rủ nhau đi trộm cắp tài sản.

Mạc Lê Hồng điều khiển xe mô tô hiệu Dream màu tím, không có biển số chở Phạm Chí H đi trên đường ĐT766 thuộc xã T để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1981, trú tại thôn C, xã T cả hai phát hiện 01 bộ rửa xe để trong sân nhà có giá trị nên bàn bạc nhau vào trộm cắp bộ rửa xe này. Mạc Lê H3 ở ngoài cảnh giới còn Phạm Chí H xuống xe trèo qua hàng rào lưới B40 nhà bà Nguyễn Thị Thanh T1 vào lấy trộm bộ rửa xe đưa ra ngoài Mạc Lê Hồng điều khiển xe chở Phạm Chí H ngồi sau giữ bộ rửa xe đem về rẫy cao su thuộc thôn G, xã N cất giấu.

Sau đó, Phạm Chí H gọi cho Huỳnh Quốc B, sinh năm 1995, trú tại thôn A, xã Đ nói B đưa bộ rửa xe đã trộm được đi bán.

Đến khoảng 09 giờ 00 ngày 12/12/2022, Huỳnh Quốc B đến gặp Phạm Chí H lấy bộ rửa xe đến nhà bán cho Phạm Duy T3, sinh năm 1987, trú tại khu phố F, thị trấn Đ được số tiền 1.000.000 đồng, về đưa cho H, Phạm Chí H nạp cho Huỳnh Quốc B một cái Card điện thoại còn lại Phạm Chí H và Mạc Lê Hồng chia nhau tiêu xài.

Tại Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐG ngày 13/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: Tổng giá trị tài sản cần định giá theo Yêu cầu định giá tài sản số 115/YC-ĐT1 ngày 13/12/2022 của Công an huyện Đ gồm: Một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m trị giá 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng).

Vật chứng vụ án:

- Một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị Thanh T1.

- Một mô tô hiệu Dream màu tím loại Sanda, không rõ biển số, số máy SD025698 là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị H4 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã lại cho bà Lê Thị H4.

- Một xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đỏ đen bạc, biển số 86B8-480.72 là tài sản hợp pháp của bà Lê Thì Kim S1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã lại cho bà Lê Thì Kim S1.

- Một điện thoại di động Iphone, màu bạc, số IMEI 354403068245800 của Huỳnh Quốc B.

- Một con dao tự chế dài 30cm, cán bằng nhựa màu đen dài 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 16cm được bọc bởi lớp nhựa quấn bằng băng keo đen, bề rộng nhất của lưỡi dao dài 2,5cm.

- Một loa kẹo kéo màu đen hiệu Takes.

- Một bộ đèn năng lượng mặt trời gồm: 01 bóng đèn hiệu Solar Linght, 100 W IP 67, màu đen; 01 tấm pin kích thước (35 x 45) cm.

Về vấn đề dân sự: Bà Nguyễn Thị Thanh T1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì. Ông Phạm Duy T2 yêu cầu Huỳnh Quốc B trả lại 1.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSĐL-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Phạm Chí H, Mạc Lê H3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và truy tố Huỳnh Quốc B về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tôi mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa trong phần tranh tụng:

Bị cáo Phạm Chí H, Mạc Lê H3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan.

Bị cáo Huỳnh Quốc B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng, không oan.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của các bị cáo từ đó:

Đối với các bị cáo Phạm Chí H, Mạc Lê H3 đề nghị:

Về điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Chí H, Mạc Lê H3 phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Chí H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Mạc Lê Hồng mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Đối với bị cáo Huỳnh Quốc B đề nghị:

Về điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quốc B phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc B mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Thanh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Quốc B: Một điện thoại di động Iphone, màu bạc, số IMEI 354403068245800; Một con dao tự chế dài 30cm, cán bằng nhựa màu đen dài 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 16cm được bọc bởi lớp nhựa quấn bằng băng keo đen, bề rộng nhất của lưỡi dao dài 2,5cm.

Buộc các bị cáo bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Duy T2 số tiền 1.000.000 đồng.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, ngoài ra không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng bị cáo H3: Gửi lời xin lỗi tới Hội đồng xét xử, bị cáo vi phạm lần đầu, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để làm lại cuộc đời.

Bị cáo H: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về làm lại cuộc đời.

Bị cáo B: Xin lỗi Hội đồng xét xử, mẹ, bà nội; Bị cáo ăn năn hối lỗi về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về lo cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, quá trình điều tra trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ tiến hành lấy lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Đồng thời việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa là phù hợp Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi và tội danh:

Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên xác định hiện trường, biên bản xác định vị trí, địa điểm, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, Kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào đêm ngày 11/12/2022, rạng sáng ngày 12/12/2022, để có tiền tiêu xài Phạm Chí H cùng Mạc Lê H3 lén lút đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị Thanh T1 chiếm đoạt một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m trị giá 2.400.000 đồng.

Mặc dù biết tài sản một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m là tài sản do Phạm Chí H, Mạc Lê H3 trộm cắp mà có, không hứa hẹn trước nhưng Huỳnh Quốc B vẫn đồng ý đem bán cho Phạm Duy T2 được số tiền 1.000.000 đồng.

Phạm Chí H, Mạc Lê H3, Huỳnh Quốc B đều là những người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi chiếm đoạt một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m của các Phạm Chí H, Mạc Lê H3 đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ.

Hành vi tiêu thụ một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m do Phạm Chí H, Mạc Lê H3 chiếm đoạt mà có của Huỳnh Quốc B đã xâm phạm đến khách thể là quản lý trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ.

Do đó, hành vi của Phạm Chí H, Mạc Lê H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi của Huỳnh Quốc B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; tính đồng phạm; nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Vụ án có tính chất nghiêm ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, một mặt xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ngoài ra còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý tài sản của người dân. Các bị cáo hoàn toàn nhận thức và biết hành vi của mình là trái pháp luật nhưng cố ý thực hiện, do đó các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của Phạm Chí H, Mạc Lê Hồng đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Các bị cáo đều thống nhất, khởi xướng và cùng thực hiện hành vi chiếm đoạt.

Bị cáo Huỳnh Quốc B có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 23/2021/HS-ST, ngày 26/5/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 19/6/2022, chưa được xóa án tích và một tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”, tại quyết định số 0055119, ngày 11/9/2020 bị Công an xã Đ ra xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, hiện chưa chấp hành.

Ngoài ra, các bị cáo Phạm Chí H, Huỳnh Quốc B đều có nhân thân xấu. Trong đó, bị cáo Phạm Chí H đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 40/2014/HSST, ngày 30/6/2014. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/10/2016. Ngày 23/8/2019 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng. Chấp hành xong ngày 27/11/2020. Bị cáo Huỳnh Quốc B đã từng bị bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tại bản án số 32/HSST, ngày 22/5/2014, chấp hành xong ngày 31/8/2015, đã được xóa án tích. Ngày 01/02/2021, bị Ủy ban nhân dân xã Đ ra quyết định số 27/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Đ thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 01/02/2021 vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/6/2012, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự số tiền 375.000 đồng, chấp hành xong ngày 22/6/2012.

Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong các bị cáo đều không lấy đó làm bài học để tự giáo dục thành người công dân tốt, có ích cho xã hội mà lại còn tiếp tục phạm tội, điều này chứng tỏ các bị cáo là người xem thường pháp luật.

Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Phạm Chí H, Mạc Lê H3: Không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Bị cáo Huỳnh Quốc B có một tiền án, chưa được xóa án tích. Nhưng đến ngày 12/12/2022 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Mạc Lê H3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp

Về hình phạt chính:

Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần xem xét hình phạt nghiêm khắc tương xứng với từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung. Nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là hợp lý. Đối với bị cáo Mạc Lê H3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đã bị bắt tạm giam từ ngày 14/12/2022 đến nay củng đủ để giáo dục bị cáo, nên cần áp dụng hình phạt tù bằng thời gian tạm giam và trả tự do cho bị cáo là phù hợp, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với nhưng vật chứng trong qúa trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã xử lý theo đúng quy định nên không xem xét.

Đối với: Một điện thoại di động Iphone, màu bạc, số IMEI 354403068245800; Một con dao tự chế dài 30cm, cán bằng nhựa màu đen dài 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 16cm được bọc bởi lớp nhựa quấn bằng băng keo đen, bề rộng nhất của lưỡi dao dài 2,5cm là tài sản hợp pháp của Huỳnh Quốc B, không liên quan đến hành vi phạm tôi nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tạm giữ điện thoại để đảm bảo cho thi hành án.

Đối với: Một loa kẹo kéo màu đen hiệu Takes; Một bộ đèn năng lượng mặt trời gồm: 01 bóng đèn hiệu Solar Linght, 100 W IP 67, màu đen; 01 tấm pin kích thước (35 x 45) cm. Đây không phải là vật chứng trong vụ án, nên cần tiếp tục tạm giữ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Chí T4 yêu cầu bị cáo Huỳnh Quốc B bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Xét thấy, sau khi bán cho ông T4 một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m bán được số tiền 1.000.000 đồng, các bị cáo chia nhau tiêu xài, hiện nay cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã thu hồi Một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m trả lại cho bị hại, do đó cần buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho ông T4 là phù hợp.

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố, xét xử:

Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Ông Phạm Duy T2 khi mua một dàn xịt rửa xe loại 2HP Toàn Phát (một đầu mô tơ hiệu điện cơ Toàn P, một đầu bơm điện hiệu Dragon), một đoạn dây màu vàng dài 5m, một đoạn dây màu đỏ dài 2,5m không biết tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Mạc Lê H3, Phạm Chí H ngoài thực hiện hành vi trên cả hai còn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đèn năng lượng mặt trời, bán cho ông Phạm Ngọc T5 và trộm cắp 01 loa kẹo kéo. Tuy nhiên, chưa xác định được bị hại nên tiếp tục điều trả, làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Phạm Chí H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phạm Chí H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Mạc Lê Hồng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Mạc Lê Hồng 0 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/12/2022. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Huỳnh Quốc B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt Huỳnh Quốc B 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/12/2022.

4. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2015; Các Điều 357, 468, 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Buộc Phạm Chí H, Mạc Lê H3, Huỳnh Quốc B liên đới bồi thường cho ông Phạm Duy T2 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về vật chứng:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Quốc B 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu bạc, số IMEI 354403068245800; 01 (một) con dao tự chế dài 30cm, cán bằng nhựa màu đen dài 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 16cm được bọc bởi lớp nhựa quấn bằng băng keo đen, bề rộng nhất của lưỡi dao dài 2,5cm. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone, màu bạc, số IMEI 354403068245800 để đảm bảo thi hành án. (Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/5/2023.

6. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai Trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và liên đới phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

8. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ