- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Hoa - Phương: Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày 29 - 9 - 2023 “V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Chí Thân
Ông Vũ Khắc Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; nơi cư trú: khu 7, phường
N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn P; sinh năm 1982; nơi cư trú: khu 7, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị
Nguyễn Thị H trình bày:
Về tình cảm: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P kết hôn trên cơ sở hoàn
toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Nam Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 27/4/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại khu 7, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp về tính cách, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, không có sự cảm thông, yêu thương, tin tưởng lẫn nhau. Mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, không thể hòa giải được, chị H và anh P đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Đến nay, chị H thấy bản thân không còn tình cảm với anh P, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, do đó chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P không có con chung.
Về tài sản chung, khoản nợ chung: chị H trình bày chị và anh P không có nên
chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn P mặc dù đã được Tòa
án nhân dân thị xã Quảng Yên gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập nhiều lần, nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị H, cũng không đến Tòa án để làm việc, không có quan điểm giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh Nguyễn văn P theo quy định pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 14/8/2023 tại nơi cư trú của anh P và chị H, ông
Nguyễn Văn T - khu trưởng khu 7 và ông Nguyễn Minh T – phó chủ tịch phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cho biết: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 27/4/2015 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vợ chồng chị H và anh P đều có đăng ký hộ khẩu thường trú và chung sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh P tại khu 7, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Anh chị P, H không có con chung. Về cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh P có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, hiện tại hai người đã sống ly thân, nay chị H khởi kiện ly hôn, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung thì chính quyền địa phương không nắm được.
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Văn P, không yêu cầu giải quyết về con chung và tài sản, nợ chung; anh Nguyễn Văn P được triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn: trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tòa án làm việc, chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay, tuy nhiên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của chị Nguyễn Thị H: cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Văn P; chị H và anh P đều có nơi cư trú tại thị xã Quảng Yên, nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo
thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Nguyễn Văn P nhưng anh P vẫn cố tình vắng mặt gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Ngày 14/9/2023, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Nam Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 27/4/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại khu 7, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên ngân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp về tính cách, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, không có sự cảm thông, yêu thương, tin tưởng lẫn nhau. Mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, không thể hòa giải được, chị H và anh P đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu chăm sóc lẫn nhau.
Lời khai của chị Nguyễn Thị H phù hợp với biên bản xác minh tại khu phố
nơi chị H và anh P cư trú về mâu thuẫn vợ chồng. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc của tòa án nhiều lần nhưng anh P vẫn cố tình trốn tránh không đến làm việc và hòa giải, không trình bày quan điểm gì. Điều này thể hiện anh P cũng không có mong muốn hòa giải đoàn tụ, không có nguyện vọng để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ khẳng định tình trạng hôn nhân của chị H và anh P đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H cho chị H được ly hôn anh P là phù hợp với theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
2.2 Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P không có con chung nên không xem xét giải quyết.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị H trình bày là không có, nên không xét. Do anh Nguyễn Văn P không tham gia tố tụng, nên anh P có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác về tài sản chung, khi có yêu cầu.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ nộp án phí hôn ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
2. Về án phí: chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số: 0010313 ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tx. Quảng Yên; - Chi cục THADS tx. Quảng Yên; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - UBND p. Nam Hòa; - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Huy |