- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị N xin ly hôn ông Trần Văn N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị N được ly hôn ông Trần Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-2-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đức Hiếu
2. Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 2 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 375/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm: 1990. Nơi ĐKHKTT: thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Nơi tạm trú: phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1992. Nơi tạm trú: phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2022, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Bùi Thị Nhung trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn H kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2015, quyển số 01/2014 ngày 15/01/2015). Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại địa chỉ phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng cũng đã âm ỉ từ lâu nhưng trầm trọng nhất là năm 2021, nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không hợp, không có tiếng nói chung nên thường xuyên có lời qua tiếng lại, ông H sống không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình. Đồng thời bà N nghi ngờ ông H có người phụ nữ khác. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy vợ chồng không còn yêu thương nhau, không có tiếng nói chung nên yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn H.
- Về quan hệ con chung: Bà và ông H có 01 con chung tên là Trần Văn P, sinh ngày 27/11/2018. Ly hôn bà N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà N xác nhận không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà N xác nhận không có nợ chung.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Trần Văn H không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai gửi Tòa án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa tuân thủ đúng theo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như không đến Tòa án để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa.
- Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị N, xử cho bà N được ly hôn ông Trần Văn H.
+ Về quan hệ con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Trần Văn P, sinh ngày 27/11/2018 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Bà N xác nhận không có tài sản chung.
+ Về nợ chung: Bà N xác nhận không có nợ chung.
+ Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Bùi Thị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Trần Văn H cư trú tại địa chỉ phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Bị đơn ông Trần Văn H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn H.
Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, bà Bùi Thị N yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Văn H.
Xét thấy: Qua lời khai của bà N cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Bùi Thị N và ông Trần Văn H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên có lời qua tiếng lại, vợ chồng sống không hạnh phúc. Ông H sống thiếu trách nhiệm với gia đình, thường hay vắng nhà không quan tâm đến vợ con, vợ chồng phần ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hoà giải nhưng ông H không đến Tòa án. Điều này chứng tỏ ông H không quan tâm, không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông H đã thật sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Bùi Thị N được ly hôn với ông Trần Văn H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Bà N và ông H có 01 con chung tên Trần Văn P, sinh ngày 27/11/2018. Ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi. Bà không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về mặt thể chất và tinh thần. Hiện nay, cháu Trần Văn P còn nhỏ rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ, bà N cũng là người có thu nhập ổn định, hơn nữa ông H thường xuyên vắng nhà không quan tâm đến gia đình nên để bà N trực tiếp nuôi con sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Do vậy, giao cháu Phúc cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Do bà Bùi Thị N không yêu cầu ông Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà N xác nhận không có.
Về nợ chung: Bà N xác nhận không có.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án giống với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Bùi Thị N phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Thị N được ly hôn ông Trần Văn H.
2.Về quan hệ con chung: Giao con chung Trần Văn P, sinh ngày 27/11/2018 cho bà Bùi Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác nhận không có.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình bà Bùi Thị N phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002102 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng ông Trần Văn H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Cẩm Lệ; - CCTHADS Q.Cẩm Lệ; - TAND thành phố Đà Nẵng; - UBND thị trấn Gia Linh; - Đương sự; - Lưu. HỘI | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Trang |