vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị P về việc ly hôn đối với ông Lê

Về hôn nhân: Bà Lầm Thị Phường và ông Lê Quang B được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Lê Lâm Vĩnh C, sinh ngày 14/9/2010 (giới tính nam) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lâm Thị P yêu cầu ly hôn với ông Lê Quang B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị P về việc ly hôn đối với ông Lê
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-02-2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Phi Hùng

2. Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới

Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 412/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị P, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã TT, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Lê Quang B, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trình bày của bà Lâm Thị P tại đơn khởi kiện ngày 01/11/2022 và trong qúa

trình giải quyết vụ án:

Hôn nhân: Bà Lâm Thị P và ông Lê Quang B tự nguyện chung sống với nhau có

tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/7/2014. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống nên bà P yêu cầu ly hôn với ông B.

Con chung: Bà P và ông B có 01 con chung là Lê Lâm Vĩnh C, sinh ngày

14/9/2010 (giới tính nam), hiện do ông B nuôi day, khi ly hôn bà P tự nguyện để cho ông B tiếp tục nuôi con, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lâm Thị P khởi kiện yêu

cầu được ly hôn với ông Lê Quang B. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông Lê Quang B có nơi cư trú tại ấp B, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần

thứ hai nhưng ông B vắng mặt không có lý do, bà Lâm Thị P xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà P, ông B theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị P và ông Lê Quang B tự nguyện chung sống với

nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/7/2014. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống nên bà P yêu cầu ly hôn với ông B. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông B đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, bà P xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để bà P và ông B có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông B vắng mặt không có lí do, thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng của ông bà đã đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống với nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà P và ông B được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Bà P và ông B có 01 con chung là Lê Lâm Vĩnh C, sinh

ngày 14/9/2010 (giới tính nam), hiện do ông B nuôi dạy. Khi ly hôn, bà P tự nguyện để cho ông B tiếp tục nuôi con, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu C đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng sống chung với cha, từ trước đến nay cháu sống ổn định với ông B, bà P tự nguyện để cho ông B tiếp tục nuôi con, ông B không có ý kiếm gì về vấn đề này nên cần chấp nhận cho ông B được tiếp tục nuôi dạy con chung là phù hợp. Bà P không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Tài sản chung: Bà Lâm Thị P xác định vợ chồng không có tài sản chung,

quá trình giải quyết vụ án ông B không có ý kiến về vấn đề này nên không xem xét là phù hợp.

Về nợ chung: Bà Lâm Thị P xác định vợ chồng không có tài sản chung, quá

trình giải quyết vụ án không có ai yêu cầu gì về nợ đối với vợ chồng ông bà nên không xem xét là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí theo quy

định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị P về việc ly hôn đối với ông Lê

Quang B.

Về hôn nhân: Bà Lầm Thị Phường và ông Lê Quang B được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Lê Lâm Vĩnh C, sinh ngày 14/9/2010 (giới tính nam)

cho ông Lê Quang B tiếp tục nuôi dạy. Bà P không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Bà P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Thị P phải nộp 300.000

đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 01 tháng 11 năm 2022, bà có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003113 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo

bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Cỡ chữ