vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị S được ly hôn với anh Q. Về án phí: Chị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011393 ngày 09-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc S - Nguyễn Quốc Q"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-3-2023
V/v tranh chấp xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đức.

2. Ông Nguyễn Thành Phước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 550/2022/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc “ Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị S, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện S, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Q, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện S, tỉnh An Giang.

(Chị S có mặt; anh Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-9-2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị S trình bày:

Chị và anh Q tự tìm hiểu quen nhau và chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, tỉnh An Giang vào năm 2019. Thời gian đầu chị và anh Q chung sống rất hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh Q không lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau; mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ tháng 6/2022 chị và anh Q đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị và anh Q không có con chung nên không yêu cầu Tòa

án đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Chị và anh Q không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Q: Anh Q đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện S, anh Q đã biết được yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị S, nhưng anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị S.

Tòa án nhân dân huyện S đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh Q tham gia phiên họp hai lần hợp lệ, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.

Tại phiên tòa, chị S có mặt; anh Q vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án ly hôn; bị đơn là anh Q cư trú tại huyện S, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Q đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Q.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị S và anh Q là hôn nhân hợp pháp, anh chị chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 18-4-2019. Thời gian đầu, anh chị chung sống rất hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh Q không lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau; mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên tháng 6-2022 chị và anh Q đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Q. Xét thấy, hôn nhân giữa chị S và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị S là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị S và anh Q không có con chung, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị S trình bày, chị và anh Q không có nợ chung; Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH 14 của Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều: 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị S được ly hôn với anh Q.

2. Về án phí: Chị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011393 ngày 09-12-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh An Giang, xem như đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Chị S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ