vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T:

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn anh Man Việt T1. Về con chung: giao con chung tên Man Huỳnh Việt T3 (nam), sinh ngày 21/9/2019 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Thanh T tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày:
02-8-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Nghị

2. Ông Đặng Văn Trị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1990 (Vắng mặt, có đơn).

Trú tại: Thôn PT, xã P, huyện T2, Bình Định.

- Bị đơn: Anh Man Việt T1, sinh năm 1989 (Vắng mặt lần 02).

HKTT: Thôn G, xã H, huyện TP, Bình Định

Chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã B, huyện T2, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Thanh T trình bày: chị và anh Man Việt T1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau được hai bên gia đình chấp nhận, có tổ chức đám cưới theo phong tục nhưng không nhớ rõ ngày tháng năm. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 10/9/2019. Sau khi cưới chị và anh Man Việt T1 sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Lý do chị và anh T1 tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi, xúc phạm nhau. Đến tháng 10/2020 vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy không còn tình cảm yêu thương gì, chị yêu cầu ly hôn anh Man Việt T1.

- Về con chung: chị và anh Man Việt T1 có 01 con chung tên Man Huỳnh Việt T3, sinh ngày 21/9/2019, giới tính nam (hiện đang sống với chị). Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Man Huỳnh Việt T3 đến trưởng thành; không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Man Việt T1 vắng mặt không có lý do: Anh Man Việt T1 đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, qquyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.

Theo biên bản xác minh ngày 22/5/2023, Công an xã B cung cấp: anh Man Việt T1 có đăng ký thường trú tại thôn G, xã H, huyện TP, Bình Định. Tuy nhiên anh T1 trở về sinh sống làm việc và ở nhà của cha mẹ (là ông Man Văn M, bà Nguyễn Thị D) tại Thôn X, xã B, huyện T2, Bình Định; anh T1 hiện có mặt ở địa phương; vào thời điểm Tòa án xác minh anh T1 đang bị tai nạn nằm ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đa phần là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên vẫn còn một vài vi phạm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: đề nghi ̣ HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn anh Man Việt T1. Về con chung: giao con chung tên Man Huỳnh Việt T3, sinh ngày 21/9/2019, giới tính nam cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: miễn xét vì chị T không yêu cầu. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét. Án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Man Việt T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T với anh Man Việt T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 10/9/2019 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống đến tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là vợ chồng tính tình không hợp bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi, xúc phạm nhau. Chị T và anh T1 đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau tháng 10/2020 đến nay. Anh T1 có mặt tại địa phương mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa là thể hiện không xem trọng cuộc hôn nhân này. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T yêu cầu ly hôn với anh T1 là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Anh T1 và chị T có 01 con chung tên Man Huỳnh Việt T3, sinh ngày 21/9/2019, giới tính nam (hiện đang sống với chị T). Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Man Huỳnh Việt T3 đến trưởng thành. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu này của chị T là đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nghị nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

[4] Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc chị Huỳnh Thị Thanh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0006011 ngày 13/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước; chị T đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T:

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn anh Man Việt T1.

- Về con chung: giao con chung tên Man Huỳnh Việt T3 (nam), sinh ngày 21/9/2019 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: miễn xét (vì chị T không yêu cầu).

- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên miễn xét.

2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Thanh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0006011 ngày 13/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước; chị T đã nộp đủ án phí.

3/ Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4/ Quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ