vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Chị Ngô Thị Thanh T: Về việc ly hôn: Chị Ngô Thị Thanh T được ly hôn với Anh Bùi Quang T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Thanh T - Bùi Quang T: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 05 – 2023
Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Dõng.

2. Bà Phan Thị Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 468/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15/12/2022, về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 04 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 16/2023/TB-TA ngày 05 tháng 05 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1997; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã H, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Tổ 2, ấp K54, xã T3, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Bùi Quang T1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn 2, xã H, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Thanh T và Anh Bùi Quang T1 tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận vào ngày 06/04/2016. Do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn gây gỗ, cải nhau, cuộc sống không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn liên lạc hoặc gặp nhau. Hiện nay chị T không còn yêu thương anh T1, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên chị T cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 người con chung tên Bùi Minh Thiên B, sinh ngày 10/02/2016, cháu B sống với anh T1 từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Chị T yêu cầu giao cho anh T1 được quyền nuôi dưỡng người con chung này cho đến khi thành niên và không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị T làm công nhân trong công ty may mặc ở tỉnh Bình Phước, công việc ổn định với mức thu nhập trung bình từ 7.000.000đ – 9.000.000đ/tháng. Chị T không xác định được hiện nay anh T1 đang làm nghề nghiệp, công việc gì, cũng không xác định được mức thu nhập của anh T1.

Về tài sản chung và vợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị T không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

[2]. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn Anh Bùi Quang T1 không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh T1 và cũng không tiến hành hòa giải được.

[3]. Theo như lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Bùi Minh Thiên B trình bày:

Cháu B thấy cha mẹ cháu không còn chung sống với nhau đã từ lâu, hiện nay cháu B đang sống với cha và ông bà nội của cháu; cha và ông bà nội của cháu đều chăm sóc cháu rất tốt, cho học tập đầy đủ. Mẹ cháu B không có về thăm nom, chăm sóc cháu B. Nếu cha mẹ của cháu ly hôn thì cháu B có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha của cháu.

[4]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Trích lục kết hôn (bản sao) số 367/TLKH-BS ngày 25/10/2022 và 01 Giấy khai sinh (Bản sao) số 59 ngày 25/10/2022 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương xã H về quan hệ hôn nhân, việc nuôi con của vợ chồng Anh Bùi Quang T1, Chị Ngô Thị Thanh T và lập các Biên bản xác minh cùng ngày 16/03/2023 (Bút số 30, 31).

[5]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng là đã vi phạm các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòan bộ yêu cầu khởi kiện của Chị Ngô Thị Thanh T; xử cho Ngô Thị Thanh T được ly hôn với Anh Bùi Quang T1; giao cho Anh Bùi Quang T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung tên Bùi Minh Thiên B, sinh ngày 10/02/2016 cho đến khi thành niên; buộc chị T phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Anh Bùi Quang T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Trích lục kết hôn (bản sao) số 367/TLKH-BS ngày 25/10/2022 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (bút lục số 01) mà nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của chị T; có đủ cơ sở xác định được: Chị Ngô Thị Thanh T và Anh Bùi Quang T1 tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T, anh T1 là hợp pháp. Vì vậy, chị T có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T xác định: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn gây gỗ, cải nhau, cuộc sống không hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn liên lạc hoặc gặp nhau; chị T không còn yêu thương anh T1, không muốn tiếp tục chung sống với anh T1 và cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Tại các biên bản xác minh lập ngày 16/03/2023 (Bút số 30, 31), địa phương xã H cũng đã cung cấp thông tin: khoảng năm 2017 – 2018, giữa chị T, anh T1 đã xảy mâu thuẫn nghiêm trọng, cải nhau; từ đó đã ly thân, không còn chung sống cho đến nay. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị T cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ, còn anh T1 vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được; điều này cho thấy chị T, anh T1 không có nguyện vọng đoàn tụ. Từ những căn cứ này, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị T, anh T1 đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận; xử cho chị T được ly hôn với anh T1.

Về cầu giải quyết nuôi con của nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Giấy khai sinh (bản sao) số 59 ngày 25/10/2022 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (Bút lục số 02) mà nguyên đơn Chị Ngô Thị Thanh T đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị T; có đủ cơ sở xác định được: Chị Ngô Thị Thanh T và Anh Bùi Quang T1 có 01 người con chung tên Bùi Minh Thiên B, sinh ngày 10/02/2016.

Mặc dù, bị đơn anh T1 vắng mặt, không tham gia tố tụng để thực hiện quyền nuôi con và trình bày ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu của mình về việc nuôi con. Tuy nhiên chị T từ chối nuôi dưỡng cháu Bùi Minh Thiên B và yêu cầu giải quyết giao cháu B cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hơn nữa, căn cứ thông tin địa phương xã H đã cung cấp (tại các Biên bản xác minh ngày 16/03/20223 - Bút số 30, 31) và căn cứ lời khai phù hợp của chị T, cháu B; có đủ cơ sở xác định được: Cháu B sống với anh T1 và gia đình anh T1 từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, anh T1 và gia đình anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B được phát triển tốt về mọi mặt; cháu B đã gần gũi, quen thuộc, ổn định với nề nếp sinh hoạt, môi trường sống, môi trường giáo dục và cuộc sống với anh T1. Ngoài ra hiện nay cháu B có nguyện vọng được tiếp tục sống với anh T1. Vì vậy, yêu cầu của chị T về việc nuôi con là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung chưa thành niên, phù hợp với vọng của con chung chưa thành niên, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận; xử giao cho Anh Bùi Quang T1 có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Bùi Minh Thiên B, sinh ngày 10/02/2016 cho đến khi thành niên, Chị Ngô Thị Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con,về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét xử, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc Chị Ngô Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm trong vụ án, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 235, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Chị Ngô Thị Thanh T:

Về việc ly hôn: Chị Ngô Thị Thanh T được ly hôn với Anh Bùi Quang T1.

Về việc nuôi con: Giao cho Anh Bùi Quang T1 có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Bùi Minh Thiên B, sinh ngày 10/02/2016 cho đến khi thành niên. Chị Ngô Thị Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

[2]. Về án phí: Buộc Chị Ngô Thị Thanh T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011601 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, Chị Ngô Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí.

[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Cỡ chữ