- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị H - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày 07/8/2023. Về việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Tuyên
2. Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Tạ Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, về việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/QĐXX-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/QĐ-HPT ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1980; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đông L, xã Quang T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Thôn Lạc N, xã Mai Đ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; Nơi thường trú: Thôn Đông L, xã Quang T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Có mặt: Chị T.
Vắng mặt: Anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/7/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Quang T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng nhau tại thôn Đông L, xã Quang T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H hay uống rượu, đánh bạc và đánh chửi chị, chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Sau khi chị về nhà mẹ đẻ ở, anh H đã nhờ Hội phụ nữ thôn Đông L hòa giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ, anh H đã tự viết giấy cam kết nhưng sau đó anh H vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên tháng 12 năm 2022, chị đã về nhà mẹ đẻ tại thôn Lạc N, xã Mai Đ, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội để ở và anh chị ly thân từ đó đến nay. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai gia đình hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị xin ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Chị xác định chị và anh H có 02 con chung: Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/4/2004 và Nguyễn Trí K, sinh ngày 02/12/2007. Hiện đang ở cùng chị, sức khỏe các con chung bình thường. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trí K, chị không yêu cầu anh H cấp cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Nguyễn Thị H đã đủ 18 tuổi và tự lập được về kinh tến nên không phải nuôi dưỡng. Chị đang làm công nhân, thu nhập 7.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H có lời khai trước Tòa án như sau: Do anh uống rượu nên vợ chồng cãi nhau, chị T về nhà mẹ đẻ, anh xin rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm để vợ chồng đoàn tụ. Về con chung: Anh xác định anh và chị T có 02 con chung: Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/4/2004 và Nguyễn Trí K, sinh ngày 02/12/2007. Vì vợ chồng anh chưa ly hôn nên không đặt ra việc nuôi con. Về tài sản chung, công sức, nợ: Anh không yêu cầu giải quyết. Tại phiên tòa:
- Chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình về việc xin được ly hôn đối với anh Nguyễn Văn H; chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trí K, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Nguyễn Thị H đã thành niên nên phải nuôi dưỡng, khi vợ chồng ly hôn; Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng. Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát không đưa ra quan điểm đề nghị giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá đầy đủ, khách quan tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về tố tụng:
. Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị T có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn H và giải quyết việc nuôi con chung khi ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con khi ly hôn”.
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn H là bị đơn có nơi thường trú: Thôn Đông L, xã Quang T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tại thời điểm khởi kiện. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
. Về sự vắng mặt của bị đơn là anh Nguyễn Văn H tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh H đều không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh H nhưng anh H đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Anh H đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt anh H. Hội đồng xét xử nhận thấy, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thủ tục phiên tòa cho anh H theo đúng quy định của pháp luật đến lần thứ hai nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/7/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Quang T, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Vì vậy, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Chị T xác định trong cuộc sống chung vợ chồng của anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H hay uống rượu, chơi đánh bạc và đánh chửi chị, anh H đã nhiều lần viết cam kết xin chị tha thứ nhưng sau đó anh H không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và đã không còn chung sống cùng nhau từ tháng 12 năm 2022 đến nay. Anh H cũng xác định vợ chồng cãi nhau là do anh uống rượu và chị T đã về nhà mẹ đẻ ở.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương hiện: Trong cuộc sống chung vợ chồng, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên uống rượu say về chửi mắng và đánh chị T, sự việc trên đã được Hội phụ nữ thôn Đông L hòa giải nhiều lần, anh H đã nhiều lần có văn bản cam kết không đánh chửi vợ nữa nhưng sau đó anh H vẫn tiếp tục uống rượu say và về nhà đánh chửi chị T. Vì vậy, chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 12 năm 2022 đến nay.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa chị T và anh H đã xảy ra mâu thuẫn trong hôn nhân và không còn chung sống cùng nhau dẫn đến hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Cường để các bên sớm ổn định cuộc sống riêng. [2.2]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung: Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/4/2004 và Nguyễn Trí K, sinh ngày 02/12/2007. Việc giao con chung của anh, chị cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn, cần phải xem xét toàn diện đến điều kiện nuôi dưỡng và sự phát triển về mọi mặt của các con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Hiện nay, chị T đang làm công nhân, có thu nhập ổn định và con Nguyễn Trí K đã đủ 07 tuổi, có nguyện vọng ở với chị Nguyễn Thị T. Vì vậy, cần giao con chung của anh chị là Nguyễn Trí K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H. Đối với con chung Nguyễn Thị H đã thành niên và tự lập được về kinh tế nên không đặt ra việc trực tiếp nuôi dưỡng, khi vợ chồng ly hôn. [2.3]. Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết. [3]. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. [4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. [5]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát không phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ nên Hội đồng xét xử không xem xét, đánh giá. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H chấm dứt kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung: Nguyễn Thị H, sinh ngày 03/4/2004 và Nguyễn Trí K, sinh ngày 02/12/2007.
Ly hôn, giao con chung Nguyễn Trí K cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn H đến khi con chung của anh, chị thành niên hoặc có quyết định khác của Tòa án.
Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Đối với con chung Nguyễn Thị H đã đủ 18 tuổi và tự lập được về kinh tế nên không đặt ra việc nuôi dưỡng, khi Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H ly hôn.
3. Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Nguyễn Thị T phải chịu cả để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo Biên L thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0005886 ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án vắng mặt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Sóc Sơn; - TAND TP. Hà Nội; - Chị cục THADS huyện Sóc Sơn; - UBND đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |