- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Phạm Văn B được ly hôn với chị Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09-02-2023 “V/v Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Thanh Tuấn
Ông Danh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 641/2022/TLST - HNGĐ, ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn B - sinh năm: 1990. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Trường A, xã Gia N, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
- Bị đơn: Chị Thị H - sinh năm: 1992. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Vĩnh L, xã Vĩnh Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - anh Phạm Văn B trình bày:
Anh và chị H tự tìm hiểu nhau khoảng 07 - 08 tháng, sau đó bắt đầu chung sống như vợ chồng năm 2016. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, anh chị chung sống hạnh phúc gần 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do không hòa hợp trong cách sinh hoạt, khác nhau về phong tục tập quán, bất đồng quan điểm trong việc xây dựng kinh tế gia đình. Anh và chị H đã ly thân từ tháng 06 năm 2017 cho đến nay, mâu thuẫn không thể hàn gắn, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay anh B yêu cầu ly hôn với chị H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Thị Thanh T - sinh ngày: 27/01/2017. Hiện con đang chung sống với chị H. Anh B đồng ý giao con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng, 03 tháng cấp dưỡng 01 lần. Thời gian cấp dưỡng từ thời điểm Tòa án xét xử cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Thị H để chị trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh B, triệu tập tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng chị H không nộp bản tự khai cho Tòa án, không đến Tòa án để tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử tiến hành nghị án. Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, và phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành trình tự, thủ tục của phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, anh B yêu cầu ly hôn, chị H không trình bày ý kiến, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh B và chị H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho anh B được ly hôn với chị H. Về con chung, xét thấy cháu T đang trực tiếp chung sống với chị H, anh B đồng ý giao con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng là phù hợp với Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung, đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Buộc anh B phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy.
Về tố tụng: Anh Phạm Văn B khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung với chị Thị H. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình - xin ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại xã Vĩnh Th, huyện Giồng Riềng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang.
Quá trình giải quyết vụ án, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt do bận đi làm ăn xa. Chị H với tư cách là bị đơn, đã được Tòa án cấp, tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn B và chị Thị H chung sống như vợ chồng từ năm 2016, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Gia N, huyện Quảng N, tỉnh Quảng Bình chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Anh B xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn không phù hợp tính ý, không có sự tin tưởng, quan tâm chăm sóc nhau. Anh và chị H nhiều lần tự hòa giải nhưng không đạt kết quả. Từ đó, vợ chồng không còn chung sống, ly thân từ tháng 06 năm 2017 cho đến nay.
Chị H đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh B, không đưa ra được biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Xét thấy anh chị đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, không quan tâm, chăm sóc nhau thời gian dài dẫn đến tình trạng hôn nhân mâu thuẫn ngày càng lớn. Anh B vẫn cương quyết ly hôn nên có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng anh B - chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Phạm Văn B được ly hôn với chị Thị H.
Về con chung: Theo anh B trình bày và Giấy khai sinh có cơ sở xác định quá trình chung sống anh B và chị H có 01 con chung tên Phạm Thị Thanh T - sinh ngày: 27/01/2017. Hiện cháu Tâm đang chung sống với chị H. Anh B đồng ý giao cháu Tâm cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Xét thấy hiện cháu Tâm đang chung sống ổn định với chị H, anh B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Anh B được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Án phí ly hôn sơ thẩm anh B phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh B đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003164 ngày 25/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Phạm Văn B được ly hôn với chị Thị H.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Thanh T - sinh ngày: 27/01/2017 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của anh B, mỗi tháng cấp dưỡng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), 03 tháng cấp dưỡng 01 lần, thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày 09/02/2023 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Anh B được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh B phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh B đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003164 ngày 25/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Thi hành án huyện; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thúy An |