- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tuyết T - Hoàng Sỹ S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/02/2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hải, Ông Nguyễn Tất Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Xeo Thái Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXX-ST ngày 08 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1993. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm Yên Đình, xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Bị Đơn: Anh Hoàng Sỹ S, sinh năm 1992. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Xóm Tân Trung Thịnh, xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T trình bày:
Chị T kết hôn anh Hoàng Sỹ S vào ngày 16/9/2022, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T sống hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng chị T là do tính cách 02 (hai) người không hợp nhau, cuộc sống chung vợ chồng rất nặng nề, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh S.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S không có con chung.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Tuyết T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T có còn đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T vì chị T bận công việc không thể tham gia phiên tòa theo triệu tập của Tòa án.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Hoàng Sỹ S vắng mặt nhưng đã có bản tự khai gửi Tòa án. Anh Hoàng Sỹ S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Sỹ S kết hôn với chị Nguyễn Thị Tuyết T vào ngày 16/9/2022, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Cuộc sống chung của vợ chồng anh S chỉ sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng là do tính cách 02 (hai) người không hợp nhau, cuộc sống chung vợ chồng rất nặng nề, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh S đồng ý ly hôn với chị T và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh S được ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh Hoàng Sỹ S và chị Nguyễn Thị Tuyết T không có con chung.
Về tài sản: Anh Hoàng Sỹ S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh S đề nghị Tòa án giải quyết vụ án, xét xử vắng mặt anh S vì anh S bận công việc không thể tham gia theo giấy báo, triệu tập của Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Tuyết T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Hoàng Sỹ S cư trú tại xóm Xóm Tân Trung Thịnh, xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T, vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hoàng Sỹ S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ và anh S có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án, xét xử vắng mặt anh S. Vì vậy, việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và nguyên đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
Xét đề nghị của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T về việc ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S kết hôn với nhau ngày 16/9/2022 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hợp lệ theo quy định của pháp luật, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc bên nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách hai người không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng rất nặng nề, thường xuyên xẩy ra cãi vã không tôn trọng nhau, chị T và anh S đã sống ly thân từ tháng 10 năm 202022 đến nay và từ đó mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình, giữa chị T và anh S không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh S và anh Hoàng Sỹ S cũng đồng ý ly hôn với chị T.
Xét tình cảm giữa chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S thực sự không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết T là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S không có con chung.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S được ly hôn.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Tuyết T và anh Hoàng Sỹ S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khẩu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo BL số 0002760 ngày 29/112022 tại Chi cục THANDS huyện Đô Lương).
Các đương sự vắng mặt tại phiên toàn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND Đô Lương; - Chi cục THADS huyện Đô Lương; - UBND xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương; - Lưu HS. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Duy Phi |