- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị D xin ly hôn với anh E"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/02/2023 V/v tranh chấp “Xin Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng.
Các Hội thẩm nhân nhân dân: 1. Ông Đoàn Thanh Phong.
2. Bà Lê Thị Ngọc Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh- KSV.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 501/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “ Xin Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên toà số 04/2023/QĐST- HNGĐ ngày 11/01/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị D, sinh năm 1983 ( có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện A, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn:
Ông Trần Nguyễn Hoàng E, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện A, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn ly hôn, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Trương Thị D trình bày: Bà và ông Trần Nguyễn Hoàng E chung sống với nhau vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã C, huyện A, Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41/2006 ngày 10/04/2006. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau thường xuyên tranh cải, ông bà đã sống ly thân từ cuối năm 2019, nay bà D nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, không khả năng hàn gắn, tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng E.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Khánh F, sinh ngày 10/4/2006 và Trần Minh G, sinh ngày 13/8/2008. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Hoàng E cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Nguyễn Hoàng E từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng ông E vẫn vắng mặt không rõ lý do và không trình bày ý kiến của mình.
* Tại phiên tòa, bà Trương Thị D có đơn xin vắng mặt vẫn giữ y yêu cầu khởi kiện cho bà được ly hôn với ông Trần Nguyễn Hoàng E, giải quyết vấn đề con chung, tài sản chung, nợ chung theo đơn khởi kiện.
* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phát biểu: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân bà D, ông E mâu thuẩn trầm trọng, sống ly thân từ năm 2019 nhưng không thể hàn gắn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông E.
+ Về con chung: Hai con chung tên Trần Thị Khánh F, sinh ngày 10/4/2006 và Trần Minh G, sinh ngày 13/8/2008, cháu con chung sống với bà D từ nhỏ và có nguyện vọng được ở với mẹ nên cần sự ổn định về cuộc sống, phát triển tốt nên 02 giao con chung cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Căn cứ vào yêu cầu của bà Trương Thị D về việc tranh chấp “ly hôn” với ông Trần Nguyễn Hoàng E thuộc trường hợp được qui định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm b, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
Về hôn nhân: Qua lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Ông Hoàng E, bà D chung sống với nhau vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã C, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41/2006 ngày 10/4/2006. Quá trình sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau thường xuyên tranh cải, ông bà đã sống ly thân từ cuối năm 2019, nay bà D nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, không khả năng hàn gắn, tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hoàng E. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông E nhưng ông vẫn không đến tham dự phiên tòa và không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà D, điều đó chứng tỏ ông E không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông E, bà D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà D là phù hợp với qui định của pháp luật do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Giao 02 con chung Trần Thị Khánh F, sinh ngày 10/4/2006 và Trần Minh G, sinh ngày 13/8/2008 cho bà Trương Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, cũng theo nguyện vọng của cháu.Không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có.
Bà Trương Thị D có đơn xin vắng mặt, ông Trần Nguyễn Hoàng E vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà D, ông E.
Về án phí: Bà Trương Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Từ những nhận định trên và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu quan điểm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm b, khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về áp dụng án phí, lệ phí.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị D.
[1] Về hôn nhân: Bà Trương Thị D được ly hôn với ông Trần Nguyễn Hoàng E.
[2] Về con chung: Giao 02 con chung Trần Thị Khánh F, sinh ngày 10/4/2006 và Trần Minh G, sinh ngày 13/8/2008 cho bà Trương Thị D tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Ông Trần Nguyễn Hoàng E không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Trương Thị D không có yêu cầu.
Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
[3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Bà Trương Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà D đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0025235 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Tiền Giang.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND Tỉnh TG; -VKSNDHCG-TG -Chi cục THADSHCG; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu. | (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thị Ánh Hồng |