vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Loan.

Cho Loan được ly hôn với anh Phúc. 2/Về con chung: Tiếp tục giao trẻ: Phan Bảo, sinh ngày 18/11/2016 cho anh Phúc được quyền nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LIEN - PHUC"
  • Tòa quyết gì? 1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Loan.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 21 - 7 - 2023
“ Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Sơn Mứt; Ông Lương Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 332/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị N T N Loan – sinh năm 1994 - xin vắng mặt

Nơi ĐKHKTT: tổ 11, khóm Đ B, phường Đ T, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Chổ ở hiện tại: Khóm X, phường T P, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh P T Phúc – sinh năm 1991 - vắng mặt

Địa chỉ: tổ 11, khóm Đ B, phường Đ T, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 9 năm 2022 chị N T N Loan có nội dung yêu cầu:

Vào tháng 6 năm 2015 chị Loan và anh Phúc có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, hai bên do quen biết trước được cha mẹ hai bên đồng ý, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ T, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới chúng tôi về sống chung tại phường Đ T, thời gian đầu sống rất hạnh phúc, nhưng gần đây chúng tôi có nhiều mâu thuẫn như cãi nhau, vợ chồng bất đồng ý kiến, hiện chúng tôi ly thần từ tháng 10 năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, không nói chuyện. Nguyên nhân theo chị Loan cho rằng vợ chồng không có tiếng nói chung, anh Phúc có người khác bên ngoài.

Quá trình sống chung chúng có 01 con chung: P N L T Bảo, sinh ngày 18/11/2016 hiện do anh Phúc nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Không có, về nợ chung: không có.

Nay yêu cầu được ly hôn với anh Phúc. Về con chung: đồng ý giao con chung cho anh Phúc nuôi dưỡng. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, để tự thỏa thuận, về nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Phúc vắng mặt tại phiên Tòa, không cung cấp bản khai ý kiến trình bày các vấn đề chị Loan yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.

Xét việc, chị Loan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; xử vắng mặt.

Xét việc bị đơn anh Phúc được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ ba, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn; Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt.

Xét mối quan hệ gia đình giữa chị Loan với anh Phúc có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị Loan và anh Phúc có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau về kinh tế gia đình, anh Phúc không quan tâm vợ, con, mâu thuẫn về kinh tế gia đình, thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm, anh Phát gia trưởng, chị không được ý kiến vào mọi vấn đề của gia đình, ….. Từ đó làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Tòa án đã mời hòa giải nhiều lần, nhằm giúp hai bên đoàn tụ và cho hai bên có thời gian hàn gắn tình cảm, nhưng anh, chị không trở về đoàn tụ được. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu ly hoân của nguyên đơn chị Loan. Cho chị Loan được ly hôn với anh Phúc là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 con chung: P N L T Bảo, sinh ngày 18/11/2016 hiện do anh Phúc đang quản lý và nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị Loan đồng ý cho anh Phúc tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con. Tiếp tục giao trẻ: Bảo, sinh ngày 18/11/2016 cho anh Phúc được quyền nuôi dưỡng.

Chị Loan có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, tự thỏa thuận, không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị Loan phải chịu số tiền án phí là: 300.000đồng, tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng, theo biên lai thu số 0012970, ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228; điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử;

1/Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Loan.

Cho Loan được ly hôn với anh Phúc.

2/Về con chung: Tiếp tục giao trẻ: Phan Bảo, sinh ngày 18/11/2016 cho anh Phúc được quyền nuôi dưỡng.

Chị Loan có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh Loan chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

3/Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.

4/Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.

5/Về án phí sơ thẩm: Chị Loan phải chịu số tiền án phí là: 300.000đồng; Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí: 300.000đồng theo biên lai thu số 0012970, ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ