vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về “Tranh chấp về xác định cha cho con”. Xác định anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 12/8/2021; địa chỉ tại: Tổ 12, ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai là cha đẻ của cháu b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn T "Tranh chấp xác định cha cho con""
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 7 – 2023
V/v: “Tranh chấp về xác định
cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thắm

Ông Nguyễn Thành Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường B Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 266/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/03/2023, về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2023/QĐST-NHGĐ ngày 12/7/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ 12, ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T1 - sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Số 167/1, ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền L nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số H2/060, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T1, anh T, anh L đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/03/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Năm 2017 anh T quen biết và phát sinh tình cảm với chị Nguyễn Thị Bích T1, thời gian đó chị T1 đang trong quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Văn L. Do xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng chị T1 sống ly thân nhau từ năm 2013. Năm 2019 chị T1 và anh L được Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất giải quyết cho ly hôn theo bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 54/2019/HNGĐ-ST ngày 18/11/2019. Trong năm 2018 anh T và chị T1 có thời gian chung sống với nhau, chị T1 có thai và sinh 01 cháu trai, dự định đặt tên là Nguyễn Nhật N, sinh ngày 20/12/2018, trong giấy chứng sinh khuyết tên cha.

Trong thời gian sau khi chị T1 sinh cháu N, anh T và chị T1 đã phát sinh mâu thuẫn nên anh đã đưa cháu N về nhà chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi cháu còn nhỏ cho đến nay. Năm 2022 do cháu N đã đến tuổi đi học nên anh T liên hệ UBND xã X để làm giấy khai sinh cho cháu N nhưng bị từ chối nhận hồ sơ đăng ký khai sinh do không đủ điều kiện chứng minh cháu N là con của anh và chị T1.

Ngày 07/5/2022 anh T đã đưa cháu N đi giám định AND tại Viện công nghệ sinh học phòng TNTĐ công nghệ gen kết quả xác định cháu N có quan hệ huyết thống cha con với anh. Mặc dù đã có kết quả giám định AND tuy nhiên anh T vẫn chưa làm được giấy khai sinh cho con.

Do vậy, anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nguyễn Nhật N, sinh ngày 20/12/2018 (giới tính N), họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích T1 theo giấy chứng sinh số 10/2021 (cấp lại) của Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Khánh. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

* Theo bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị Bích T1 trình bày:

Chị T1 và anh Nguyễn Văn L kết hôn và chung sống với nhau nhưng đã phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ năm 2013. Trong thời gian ly thân chị có quen biết và phát sinh tình cảm với anh Nguyễn Văn T. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chị T1 đã khởi kiện xin ly hôn anh L tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất. Ngày 18/11/2019 chị và anh L được Tòa án giải quyết cho ly hôn theo bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 54/2019/HNGĐ-ST. Trong thời gian sống ly thân và chờ Tòa án giải quyết ly hôn chị T1 có thai với anh T và sinh được 01 cháu bé trai, dự định đặt tên là Nguyễn Nhật N, sinh ngày 20/12/2018. Do anh T đi khai sinh cho con tại UBND xã X nhưng không được chấp nhận sau đó đã đưa cháu N đi giám định AND tại Viện công nghệ sinh học phòng TNTĐ công nghệ gen, kết quả xác định anh T và cháu N có quan hệ huyết thống cha con.

Sau một thời gian chung sống với nhau giữa chị T1 và anh T cũng phát sinh mâu thuẫn nên chị đã để anh T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N từ nhỏ cho đến nay. Chị vẫn thường qua lại thăm con.

Nay chị T1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của anh T về việc xác định cháu Nguyễn Nhật N là con đẻ của anh Nguyễn Văn T.

Đối với anh Nguyễn Văn L, hiện chị T1 không còn liên lạc nhưng đã cung cấp địa chỉ nơi cư trú của anh L cho Tòa án để tiến hành làm việc theo quy định.

Chị T1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của anh T, đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Văn T, sinh là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Nguyễn Nhật N, sinh ngày 20/12/2018 (giới tính N), họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích T1 theo giấy chứng sinh số 10/2021 (cấp lại) của Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh để đảm bảo quyền L của cháu N theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến trình bày của người có quyền L nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L:

Anh L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các buổi làm việc và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Bích T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, trong đó nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền L nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về án phí đương sự không phải chịu án phí theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa án xác định anh Nguyễn Văn T là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 20/12/2018 (giới tính N), họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích T1 theo giấy chứng sinh số 10/2021(cấp lại) của Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh, theo quy định của khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về xác định cha cho con”. Bị đơn chị Nguyễn Thị Bích T1 hiện đang cư trú tại số 167/1, ấp Gia Yên, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền L nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về nội dung vụ án

Chị Nguyễn Thị Bích T1 và anh Nguyễn Văn L đã ly hôn theo Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 54/2019/HNGĐ-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất. Bản án này cũng xác định chị T1 và anh L có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H, sinh năm 2011 và cháu Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2012; giao anh L nuôi dưỡng cháu Đ, chị T1 nuôi dưỡng cháu H. Quá trình ly thân anh L, chị T1 có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Văn T. Ngày 20/12/2018 chị T1 sinh 01 cháu trai cháu dự đặt tên Nguyễn Nhật N theo giấy chứng sinh số 101/2021 (cấp lại) của Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh là trong thời gian 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị T1 và anh L nên theo quy định tại Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là con của chị T1 và anh L. Tuy nhiên, lời khai của chị T1 và anh T đều thừa nhận trong thời gian ly thân và chờ Tòa án giải quyết ly hôn, chị T1 và anh L có quan hệ tình cảm với nhau và có thai.

Đồng thời, theo Kết luận giám định số 3357/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ công an – phân viện phía N tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Ông Nguyễn Văn T và bé trai sinh ngày 20/12/2018 nêu trên có quan hệ huyết thống cha – con”.

Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Văn T, là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 20/12/2018 (giới tính N), theo giấy chứng sinh số 10/2021 (cấp lại) của Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 89, 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhân.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 89, 91, 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T về “Tranh chấp về xác định cha cho con”.

Xác định anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 12/8/2021; địa chỉ tại: Tổ 12, ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai là cha đẻ của cháu bé dự đặt tên Nguyễn Nhật N, sinh ngày 20/12/2018 (giới tính N), họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích T1 theo giấy chứng sinh số 11/2021, quyền số 02 (cấp lại) không đề ngày tháng năm 2021 của bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh.

Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Nhật N theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền L nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ