vanban.org

Bản án 45/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
N
D M
ỈN BÌN DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19- 6-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC C NG ÒA XÃ I C NG ĨA VIỆ NAM

ÒA ÁN N ÂN DÂN

N

D M , ỈN BÌN DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Đặng M Lý

+ Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2023/QĐHPT- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A, đường A0, tổ A1, khu phố A2, phường A3, thành phố A4, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Công M, sinh năm 1983; địa chỉ: Số A, đường A0, tổ A1, khu phố A2, phường A3, thành phố A4, tỉnh Bình Dương.

N I D NG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/03/2023, nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày:

Bà L và ông M là vợ chồng, tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thăng Bình, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2011. Sau khi kết hôn nhận thấy phát sinh nhiều mâu thuẫn, rạn nứt vợ chồng đã không thể hàn gắn. Trong cuộc sống giữa vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm. Nguyên nhân do ông M chưa làm tròn trách nhiệm với gia đình, thường xuyên đi sớm về khuya, đặc biệt là ông M phát sinh thêm những tật xấu ngoài xã hội như cờ bạc, nợ nần khiến cuộc sống gia đình ngày càng bế tắc về tài chính. Nhưng đến thời điểm này, những căng thẳng trong đời sống hôn nhân ngày càng nặng nề. Việc kéo dài thêm thời gian không còn ý nghĩa gì cho cuộc sống hôn nhân khiến cả hai càng cảm thấy ngột ngạt và mệt mỏi hơn. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M.

- Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Đỗ Công M.

- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đỗ M Th, sinh ngày 20/8/2012 và cháu Đỗ M Ch, sinh ngày 16/7/2020. Sau khi ly hôn, bà Phan Thị L yêu cầu được nuôi dưỡng và chăm sóc 02 con chung.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đỗ Công M đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ, nhưng ông M không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà L. Quá trình giải quyết, Tòa án đã ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đã niêm yết hợp lệ cho bị đơn tại nơi cư trú, địa phương và tại trụ sở Tòa án theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông M đều vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Phan Thị L có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

N ẬN ĐỊN C A ÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà L và ông M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thăng Bình, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2011. Nay bà L có đơn xin ly hôn với ông M và có yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung. Như vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Bị đơn ông M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông M không đến Tòa án để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng không thông báo lý do vắng mặt cho Tòa án biết. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, nguyên đơn bà L có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Các vấn đề có tranh chấp: Bà L và ông M là vợ chồng, sống chung có đăng ký kết hôn số 65 năm 2011 tại UBND xã Thăng Bình, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L cho rằng sau khi kết hôn, ông M không có trách nhiệm với gia đình, ông M thường xuyên cải vã với bà L từ đó dẫn đến sự mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng ông M, bà L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông M là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà L và ông M có 02 con chung là cháu Đỗ M Thư, sinh ngày 20/8/2012 và cháu Đỗ M Ch, sinh ngày 16/7/2020, sau khi ly hôn bà L yêu cầu sẽ nuôi 2 con chung, cháu Th và cháu Châu hiện nay đang ở với mẹ và cháu Th có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ ở với mẹ sau khi mẹ ly hôn. Hai cháu đang độ tuổi phát triển, cần có sự chăm sóc của người mẹ và các cháu có nguyện vọng ở cùng với mẹ. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử giao cháu Đỗ M Th, sinh ngày 20/8/2012 và cháu Đỗ M Ch, sinh ngày 16/7/2020 cho mẹ là bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ phân tích trên, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên Tòa chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án: Bà L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

Q YẾ ĐỊN :

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị L về việc " ly hôn, tranh chấp nuôi con" đối với bị đơn ông Đỗ Công M.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị L được ly hôn với ông Đỗ Công M.

- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đỗ M Th, sinh ngày 20/8/2012 và cháu Đỗ M Ch, sinh ngày 16/7/2020 sẽ do bà Phan Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Không ai được quyền cản trở ông Đỗ Công M trong việc thăm nom, chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau này khi cần thiết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình: Bà Phan Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng trước đây theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0002588 ngày 17/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ